- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Quốc P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lâm Quốc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2023/HS-ST Ngày: 20-6-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thanh Thuỷ
2. Ông Nguyễn Trung Chính
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân
Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Tuyết Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Lâm Quốc P (tên gọi khác: S); sinh ngày: 09/5/1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường Nguyễn Chí T, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Đường Nguyễn Chí T, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lâm Năng D và bà: Trần Phụng A; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 10.
(Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 00 giờ 35 ngày 19/02/2023, tại giao lộ Đường A – Lê Hồng P, Phường C, Quận D, Tổ tuần tra 363 Công an Quận 10 phát hiện bị cáo Lâm Quốc P đang điều khiển xe môtô biển số: 59P2-920.99 có biểu hiện nghi vấn, nên kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện, trong túi áo khoác bên phải của bị cáo P đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và 01 gói nylon chứa 04 viên nén màu hồng. Bị cáo P khai nhận số tinh thể không màu và các viên nén là ma tuý tổng hợp, bị cáo P cất giữ để sử dụng. Tổ tuần tra 363 giải giao bị cáo P cùng vật chứng cho Công an Phường C, Quận D lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã trưng cầu giám định tinh thể không màu và các viên nén màu hồng, thu giữ của bị cáo Lâm Quốc P. Kết luận giám định số 1612/KLGĐ-MT ngày 27/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (mẫu m1) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,5937g loại Ketamine; 04 viên nén màu hồng trong 01 gói nylon (mẫu m2) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 1,8100g, loại MDMA.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, bị cáo Lâm Quốc P khai nhận: Vào lúc 23 giờ 20 phút ngày 18/02/2023, bị cáo P đến quán Bar ở Quận E, mua số ma tuý trên của người đàn ông tên K (không rõ lai lịch) với giá 1.800.000 đồng, để sử dụng cho bản thân. Bị cáo P biết K có bán ma tuý là do bạn bè ngoài xã hội giới thiệu. Bị cáo P gặp K tại quán Bar ở Quận E và trực tiếp hỏi mua ma tuý của K nên không biết lai lịch và số điện thoại của K.
Ngày 19/02/2023, xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể, test nhanh mẫu nước tiểu của bị cáo Lâm Quốc P, thực hiện tại Trạm y tế Phường 12, Quận 10 cho kết quả: “Dương tính”.
Vật chứng vụ án:
- 02 gói niêm phong, bên ngoài ghi số: 351/23-G1 và 351/23-G2, chữ ký của Giám định viên Võ La Bảo Yến và Cán bộ điều tra Bùi Hữu Hoa; 01 gói bên trong có chứa 0,4470g ma tuý ở thể rắn, loại Ketamine và 01 gói bên trong có chứa 1,3603g ma tuý ở thể rắn, loại MDMA. (mẫu vật hoàn lại sau giám định)
- 01 áo khoác của bị cáo P.
- 01 xe môtô biển số: 59P2-920.99, có số khung: MII1JM511XJK155572, số máy: JM51E-1154776. Kết quả giám định số khung, số máy của xe không thay đổi, xe môtô trên do bị cáo Lâm Quốc P đứng tên chủ sở hữu. Bị cáo P đã sử dụng xe làm phương tiện thực hiện tội phạm.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã ra Quyết định chuyển các vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, có số thuê bao 0901.680.618 và 01 chiếc điện thoại di động Redmi, có số thuê bao 0775.560.618, là tài sản cá nhân của bị cáo P, không liên quan đến vụ án. Theo yêu cầu của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã xử lý vật chứng, giao trả cho mẹ ruột của bị cáo là bà Trần Phụng A quản lý.
Tại Bản Cáo trạng số 46/CT-VKSQ10 ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Lâm Quốc P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội và nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Lâm Quốc P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, miễn phạt tiền bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người, phạm tội quả tang, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Lâm Quốc P đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý ở thể rắn có khối lượng 0,5937g, loại Ketamine và 1,8100g loại MDMA để sử dụng. Do vậy bị cáo Lâm Quốc P bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma tuý, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc gia. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Ngoài ra bị cáo phạm tội lần đầu nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 gói niêm phong, bên trong có chứa 0,4470g ma tuý ở thể rắn, loại Ketamine và 01 gói niêm phong bên trong có chứa 1,3603g ma tuý ở thể rắn, loại MDMA. (mẫu vật hoàn lại sau giám định). Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu hủy.
Đối với 01 áo khoác của bị cáo P. Xét thấy đây là tài sản không liên quan đến việc phạm tội nhưng không có giá trị và bị cáo không đồng ý nhận lại. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe môtô biển số: 59P2-920.99, có số khung: MH1JM511XJK155572, số máy: JM51E-1154776. Xét thấy đây là phương tiện của bị cáo, bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma tuý. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố: Bị cáo Lâm Quốc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lâm Quốc P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/02/2023.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với 01 chiếc xe môtô biển số: 59P2-920.99, có số khung: MH1JM511XJK155572, số máy: JM51E-1154776, nhãn hiệu: Honda, màu sơn: Trắng Đen, số loại: Vario 125, loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm3, dung tích xi lanh: 125.
Tịch thu tiêu hủy đối với 01 gói niêm phong, bên trong có chứa 0,4470g ma tuý ở thể rắn, loại Ketamine; 01 gói niêm phong bên trong có chứa 1,3603g ma tuý ở thể rắn, loại MDMA và 01 áo khoác.
(Tình trạng vật chứng Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/6/2023 giữa Công an Quận 10 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).
Buộc bị cáo Lâm Quốc P chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Sở Tư pháp TP.HCM;
(1)
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP.HCM;
(1)
- VKSND Q.10;
(3)
- Công an Q.10;
(2)
- Chi cục THADS Q.10; (1)
- Người tham gia tố tụng; (4)
- Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5)
Đặng Văn Quyết
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - TAND TP.HCM; (1) - VKSND Q.10; (4) - Công an Q.10; (2) - Chi cục THADS Q.10; (1) - Người tham gia tố tụng; (3) - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (7) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |