- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2023/HS-ST Ngày 15 tháng 6 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Xuân Tiến
2. Bà Bùi Thị Thu Hiền
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh - Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại nhà văn hóa TDP Nam Cường thị trấn Thổ Tang, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (tên gọi khác: không), sinh ngày 08/7/1988 tại xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1961 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1962; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; con: có 02 con (lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: - Tại bản án số 23/2006/HSPT ngày 06/3/2006 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Văn T 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. T đã chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích.
- Ngày 08/5/2018, TAND huyện V ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T trong thời hạn 15 tháng. Ngày 23/9/2019 T chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/4/2023, chuyển tạm giam từ ngày 09/4/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: ông Trần Ngọc Q, sinh năm 1978; nơi cư trú: thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1970; nơi cư trú: thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 03/4/2023, Tổ công tác của Công an huyện V đang làm nhiệm vụ tại Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện V thì phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn T, sinh năm 1988, trú tại: Thôn N, xã B, huyện V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại tay trái T đang cầm 02 gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng, mở ra kiểm tra bên trong mỗi gói đều chứa chất bột, cục màu trắng. Tang vật được niêm phong vào 01 phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A1.
Ngày 03/4/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 22, khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn T tại thôn N, xã B, huyện V. Quá trình khám xét không thu giữ, tạm giữ đồ vật tài sản gì.
Tại Bản kết luận giám định số: 9136/KLGĐ, ngày 07/4/2023 Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:
“1. Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2583 g (Không phảy hai năm tám ba gam, không kể bao bì) loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất ”.
Nguồn gốc ma túy Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng gần 12 giờ ngày 03/4/2023, Nguyễn Văn T đang ở nhà tại thôn N, xã B thì nảy sinh nhu cầu muốn sử dụng ma túy heroine. Do biết ở khu vực gần Trường tiểu học Nguyễn Thái H1, thị trấn T có một người phụ nữ khoảng hơn 50 tuổi thường đứng bán ma túy ở gần cổng trường. Do vậy, T cầm theo số tiền 400.000đ rồi đi ra đường đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến khu vực trạm y tế thị trấn T thì xuống xe. Sau đó, T một mình đi bộ đến khu vực cổng Trường tiểu học Nguyễn Thái H1 thì gặp người phụ nữ bán ma túy đang đứng một mình ở ven đường gần cổng trường. T đi đến gặp và hỏi: “Để cháu bốn trăm”, ý của T muốn hỏi mua của người phụ nữ đó 400.000 đồng tiền ma túy heroine, người đó hiểu ý nói: “Đưa tiền đây”, T lấy ra số tiền 400.000 đồng đem theo trước đó đưa cho người phụ nữ. Người này cầm tiền T đưa rồi đưa lại cho T 02 gói ma túy heroine đều được bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng. T cầm 02 gói ma túy vừa mua được ở tay trái rồi đi bộ ra khu vực ngã ba gần trạm y tế thị trấn T để đi nhờ xe về nhà. Khi vừa đi ra đến ngã 3 thì bị lực lượng Công an huyện V đến kiểm tra bắt quả tang T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 53/CT-VKS ngày 16 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép 0,2583 gam ma túy Heroine, để sử dụng cho bản thân và không có lời bào chữa, ý kiến tranh luận nào khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ân hận về việc làm của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Tường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình, bị cáo thừa nhận: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 03/4/2023, tại Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,2583 gam ma túy, loại Heroine, để sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện V bắt quả tang.
Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo, lời khai của người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ được, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
....
c) Heroine, .... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người thành niên, có đầy đủ nhận thức hiểu biết về tác hại của ma túy, bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Từ việc sử dụng, mua bán ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp tài sản, giết người … nên cần có hình phạt tương xứng với tính chất mức độ thực hiện tội phạm của bị cáo.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2006 bị cáo bị TAND tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án và đã được xóa án tích; năm 2018 TAND huyện Vĩnh Tường ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bị cáo trong thời hạn 15 tháng, năm 2019 bị cáo chấp hành xong quyết định nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân để cố gắng cai nghiện ma túy mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo trong một thời gian nhất định như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ...”. Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo thấy rằng, bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho T, T không biết rõ lý lịch, tên tuổi, địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,1844 gam ma túy heroine cùng toàn bộ bao gói, cơ quan giám định hoàn trả sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46; khoản 1 Điều 47; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 03/4/2023.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1844 gam ma túy heroin cùng toàn bộ bao gói, cơ quan giám định hoàn trả sau giám định (Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện V ngày 23/5/2023).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện V; - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - THA huyện V; - Công an huyện V; - TTG Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp Vĩnh Phúc; - Bị cáo; - Lưu HS+Vp. | Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà Lê Thị Huyền |