vanban.org

Bản án 58/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 21/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Áp dụng: Kho n 1 Điều 251; điểm s kho n 1 Điều 51; điều 38 BLHS đ i với các bị cáo; Áp dụng thêm kho n 2 Điều 51 BLHS đ i với Chu Hoài N và điểm h kho n 1 Điều 52 BLHS đ i với Nguy n Qu c K.

Tuyên bố: Bị cáo Chu Hoài N và Nguy n Qu c K ph m tội “Mua bán trái phép chất matuý”. Bị cáo Chu Hoài N 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời h n ch p hành hình ph t tù tính từ ngày 27/6/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "N và K Mua bán TP chất MT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: Kho n 1 Điều 251; điểm s kho n 1 Điều 51; điều 38 BLHS đ i với các bị cáo; Áp dụng thêm kho n 2 Điều 51 BLHS đ i với Chu Hoài N và điểm h kho n 1 Điều 52 BLHS đ i với Nguy n Qu c K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật t tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HS-ST
Ngày: 21 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: ng Ph m Qu c Tu n và ng Nguy n H i Hà.

- Thư ký phiên toà: Ông Ph m Thành Trung - Th m tra viên Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: ng Nguy n Đức Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023, t i trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ th m c ng khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý s : 55/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 (Sau đây viết tắt là: 11/9/2023) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s : 54A/2023/QĐXXST-HS ngày 11/9/2023, đ i với các bị cáo:

1. Chu Hoài N, sinh năm 1987 t i Hà Nam; nơi cư trú: Tổ dân ph V, thị tr n T, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Kh ng; qu c tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn P và bà Trần Thị Q; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị t m giữ từ ngày 27/6/2023 và chuyển t m giam từ ngày 06/7/2023 đến nay; có mặt.

2. Nguyễn Quốc K, sinh năm 1998 t i Hà Nam; nơi cư trú: Th n 1, thị tr n V, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Kh ng; qu c tịch: Việt Nam; con ng Nguy n Văn O và bà Lê Thị L; vợ, con: Chưa có;

- Tiền án: Ngày 26/4/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử ph t 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Kh ng;

- Nhân thân:

+ Ngày 30/7/2012, C ng an huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử ph t vi ph m hành chính về hành vi “Trộm cắp tài s n”.

+ Ngày 24/8/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử ph t 07 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội “Trộm cắp tài s n”.

+ Ngày 28/7/2016, Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử ph t 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n”, tổng hợp 07 tháng tù, cho hưởng án treo của b n án s 56/2015/HSPT ngày 24/8/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam. Hình ph t chung của 02 b n án là 22 tháng tù.

Bị cáo bị t m giữ từ ngày 27/6/2023 và chuyển t m giam từ ngày 06/7/2023 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ ng Chu Văn P, sinh năm 1962; nơi cư trú: Tổ dân ph T, thị tr n V, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

+ Anh Trần Đức A, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ dân ph N, thị tr n V, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

+ Chị Nguy n Thị L, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn 9, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: ng Trần Văn H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến t i phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Kho ng 12 giờ 30 phút ngày 27/6/2023, Trần Đức A sử dụng s điện tho i di động 0364.953.645 gọi đến s điện tho i 0979.917.977 của Chu Hoài N hỏi mua 500.000 đồng tiền ma tuý để về sử dụng. Chu Hoài N đồng ý và hẹn gặp Đức A ở khu đ thị Hà Phương thuộc địa phận th n 1, thị tr n V, huyện L, tỉnh Hà Nam để giao dịch. Sau đó, N điểm hẹn cầm 500.000 đồng của Trần Đức A đưa và b o Trần Đức A đứng đợi rồi điều khiển xe m t đi đến nhà của Nguy n Qu c K để mua ma túy về bán l i cho Trần Đức A. Trên đường đi, N gọi điện đến s 0977.425.290 của Nguy n Qu c K nói: “Cho anh mượn năm trăm”, hiểu ý N hỏi mua ma tuý nên K đồng ý. Đến kho ng 13 giờ cùng ngày, N đến nhà K ở th n 1, thị tr n V, huyện L, tỉnh Hà Nam . K quan sát qua Kamera th y N đang đứng trước cổng nên cầm 02 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu xanh chứa ma túy lo i Heroine đi ra gặp N. N cầm 500.000 đồng đưa qua lỗ cửa cổng sắt cho K, K cầm tiền bỏ vào túi quần rồi đưa 02 túi ma túy cho N. Sau khi mua được ma túy N bỏ ma túy vào túi quần bên ph i rồi điều khiển xe m t quay về gặp Đức A. Trên đường đi N l y gi y b c trong vỏ bao thu c lá nhặt ở trên đường bọc vào 01 túi ma túy. Khi gặp, N đưa 01 túi ma túy cho Trần Đức A, túi ma túy còn l i N cầm ở tay ph i mang về để bán cho người nghiện có nhu cầu mua. Sau đó, N điều khiển xe m t về nhà, khi đi đến tổ dân ph T, thị tr n V thì bị Tổ c ng tác của C ng an huyện Lý Nhân ph i hợp với C ng an thị tr n V phát hiện bắt qu tang, thu giữ trên tay ph i của N 01 gói gi y b c màu trắng, bên trong có một túi nilon màu trắng, miệng túi có kẹp nhựa, viền màu xanh KT(3x3)cm chứa ch t bột màu trắng d ng cục (được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01). Ngoài ra còn thu giữ của N 01 điện tho i di động nhãn hiệu Nokia; 01 xe m t nhãn hiệu HONDA Vision BKS 90B4 - 055.94.

* Khám xét khẩn cấp nơi ở của Chu Hoài N: Kh ng thu giữ được tài s n, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

Trên cơ sở lời khai của Chu Hoài N, Cơ quan C nh sát điều tra (Sau đây viết tắt là CSĐT) - C ng an huyện Lý Nhân đã triệu tập đ u tranh với Trần Đức A và thực hiện Lệnh khám xét kh n c p chỗ ở của Nguy n Qu c K.

* Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Quốc K thu giữ:

+ Thu giữ của Nguy n Qu c K 02 điện tho i di động Iphone 7 (gồm màu vàng và màu trắng) và s tiền 660.000 đồng.

+ Thu trên mặt bàn gỗ trong phòng ngủ của K một hộp nhựa màu trắng KT(8x3x8)cm, bên trong có một túi nilon màu trắng KT(6x10)cm, miệng túi có kẹp nhựa, viền màu đỏ, bên trong có 09 gói nilon màu xanh (lo i băng dính), bên trong mỗi gói đều có một gói gi y (lo i gi y in có chữ màu đen), mở ra bên trong mỗi gói đều chứa ch t bột màu trắng d ng cục; 01 túi nilon màu trắng KT(6x10)cm, miệng túi có kẹp nhựa, viền màu đỏ, bên trong có 20 viên nén màu đỏ hình tròn, dập chìm ký tự WY và 01 nilon màu trắng KT(3x7)cm, miệng túi có kẹp nhựa, viền màu đỏ, bên trong có các h t tinh thể màu trắng (Tất cả được niêm phong trong hộp catton ký hiệu KX01);

+ Thu trên đầu giường trong phòng ngủ của K 01 cân tiểu li màu đen, có dòng chữ màu trắng POCKET SCALE (được niêm phong trong hộp catton ký hiệu KX02);

+ Thu trên mặt bàn bên ph i hướng từ ngoài vào trong phòng ngủ của K 01 lọ thuỷ tinh trên nắp có gắn một cóng thuỷ tinh và 01 đo n ng nhựa màu đen (được niêm phong trong hộp catton ký hiệu KX03);

+ Thu trên tủ giày trong phòng ngủ 36 ng thuỷ tinh hình trụ (được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX04);

+ Ngoài ra còn thu giữ 01 đo n video trong Camera nhà Nguy n Qu c K ghi l i quá trình mua bán ma túy giữa Chu Hoài N và Nguy n Qu c K (được niêm phong trong USB);

* Trần Đức A đã sử dụng hết s ma túy mua của Chu Hoài N; quá trình điều tra Trần Đức A tự nguyện giao nộp 01 túi nilon màu trắng, KT(1,5x1,5)cm, miệng túi có kẹp nhựa màu trắng, viền màu xanh (được niêm phong trong phong bì ký hiệu TG01); 01 điện tho i di động nhãn hiệu Masstel; 10 tờ vé xổ s l t Hà Nam, lo i 5000 đồng, mở thưởng ngày 27/6/2023.

* T i B n kết luận giám định s 404/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Hà Nam, kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,153g (Không phẩy một trăm năm mươi ba gam), loại: Heroine; Mẫu bột màu trắng dạng cục trong hộp ký hiệu KX01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,384g (Không phẩy ba trăm tám mươi tư gam), loại: Heroine; Mẫu viên nén trong hộp ký hiệu KX01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 1,801g (Một phẩy tám trăm linh một gam) loại Methamphetamine; Mẫu tinh thể màu trắng trong hộp ký hiệu KX01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,137g (Không phẩy một trăm ba mươi bảy gam) loại: Methamphetamine; 01 cân điện tử màu đen trong hộp ký hiệu KX02 gửi giám định có bám dính ma tuý loại Methamphetamine; 01 lọ thuỷ tinh có nắp nhựa dán lớp băng dính màu xanh, trên nắp có gắn 01 cóng thuỷ tinh và một đoạn ống nhựa màu đen trong hộp ký hiệu KX03 gửi giám định có bám dính ma tuý loại: Methamphetamine; 01 túi nilon trong phong bì ký hiệu TG01 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Heroine.”

* Về nguồn g c ch t ma túy và ng thủy tinh đã thu giữ, Nguy n Qu c K khai: Sáng ngày 27/6/2023, K bắt xe m đi đến khu vực Cầu Đá thuộc địa phận tỉnh Nam Định mua 2.000.000 đồng tiền ma túy lo i Heroine và ma túy đá của một người đàn ng (kh ng rõ nhân thân, lai lịch) với mục đích để bán l i cho người nghiện và sử dụng cho b n thân. Sau đó, bắt xe đi về nhà, bỏ một ít ma túy đá ra cân tiểu ly rồi l y bình coóng sử dụng ma túy. Đến trưa ngày 27/6/2023 thì N gọi điện hỏi mua ma túy và K bán cho N 02 túi ma túy Heroine. S Heroine đã bán cho N và s ma túy thu giữ t i nhà K đều được mua vào sáng ngày 27/6/2023 của cùng một người. Còn 36 ng thủy tinh K mua từ lâu mục đích để làm đèn trang trí, kh ng ph i là c ng cụ sử dụng ma túy.

* Do không thu giữ được ma túy của Trần Đức A nên ngày 25/7/2023, C ng an huyện Lý Nhân đã ra Quyết định xử ph t vi ph m hành chính bằng hình thức “C nh cáo” đ i với Trần Đức A về hành vi sử dụng trái phép ch t ma túy.

* Đối với số vật chứng đã thu giữ trong vụ án:

- 01 chiếc điện tho i di động nhãn hiệu Masstel thu giữ của Trần Đức A; 01 chiếc điện tho i di động Nokia thu giữ của Chu Hoài N; 01 chiếc điện tho i di động Iphone 7 màu trắng thu giữ của Nguy n Qu c K được xác định là phương tiện sử dụng để liên l c mua, bán ma túy.

- S tiền 660.000 đồng đã thu giữ của Nguy n Qu c K, được xác định có 500.000 đồng là tiền Nguy n Qu c K bán ma túy mà có, s tiền còn l i kh ng liên quan đến hành vi ph m tội.

- 36 ng thủy tinh thu giữ của Nguy n Qu c K, K kh ng yêu cầu nhận l i; Chiếc 01 chiếc điện tho i di động Iphone 7 màu vàng được xác định là tài s n của chị Nguy n Thị L (chị gái của Nguy n Qu c K), kh ng liên quan đến vụ án.

- Đ i với s ma tuý và mẫu vật (cân điện tử, lọ thủy tinh, túi nilon...) hoàn tr sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì và 04 hộp catton ký hiệu 404/KTHS lần lượt ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01; KX 01; KX 02; KX03; TG 01” là ch t Nhà nước c m lưu hành và là c ng cụ để phân chia, c t giữ ma túy.

Các vật chứng nêu trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- 01 USB màu đen và 10 tờ vé xổ s l t Hà Nam thu giữ của Trần Đức A (xác định không trúng thưởng) không liên quan đến tội ph m và Trần Đức A kh ng yêu cầu nhận l i được chuyển theo cùng hồ sơ vụ án.

Ngoài ra: 01 xe m t nhãn hiệu HONDA Vision biển kiểm soát: 90B4 - 055.94 thu giữ của Chu Hoài N, tài liệu điều tra xác định là tài s n hợp pháp của ng Chu Văn P (là b đẻ của Chu Hoài N). Cơ quan CSĐT - C ng an huyện Lý Nhân đãtr l ichiếcxe mô tôtrên cho ng Chu Văn P.

*Quá trình điều tra Chu Hoài N và Nguy n Qu c K đã khai rõ toàn bộ hành vi đã thực hiện.

T i b n cáo tr ng s 59/CT-VKSLN ngày 08/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy t Chu Hoài N và Nguy n Qu c K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định t i kho n 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự (Sau đây viết tắt là BLHS).

* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy t đ i với các bị cáo như b n cáo tr ng, không có ý kiến thay đổi hoặc bổ sung gì. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): Áp dụng kho n 1 Điều 251; điểm s kho n 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đ i với các bị cáo; áp dụng thêm kho n 2 Điều 51 BLHS đ i với Chu Hoài N và điểm h kho n 1 Điều 52 BLHS đ i với Nguy n Qu c K. Xử ph t: Chu Hoài N từ 30 tháng đến 36 tháng tù; Nguy n Qu c K từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.

Hình ph t bổ sung: Ph t tiền Nguy n Qu c K từ 3.000.000đ đến 5.000.000đ sung, sung nộp ngân sách Nhà nước; mi n hình ph t bổ sung đ i với Chu Hoài N. Đồng thời đề xu t hướng xử lý vật chứng hiện đang thu giữ.

- Các bị cáo Chu Hoài N và Nguy n Qu c K đã thừa nhận và khai báo toàn bộ động cơ, mục đích cũng như di n biến hành vi mua bán trái phép ch t ma túy của b n thân vào trưa ngày 27/6/2023 và các hành vi liên quan khác cơ b n đúng như nội dung cáo tr ng đã nêu, đồng thời kh ng có ý kiến gì đ i với các hành vi, quyết định t tụng của cơ quan, người tiến hành t tụng, kết luận giám định và lời khai của người những tham gia t tụng khác trong vụ án. Các bị cáo kh ng có ý kiến bào chữa và tranh luận gì đ i với cáo buộc của Viện kiểm sát, b n thân nhận thức rõ được tội lỗi và đề nghị HĐXX xem xét gi m nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng th m quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật t tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu n i gì đ i với các hành vi, quyết định t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đo n t tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc t tụng cũng như đ m b o việc thực hiện nhiệm vụ, quyền h n và trách nhiệm được giao theo quy định.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo t i phiên tòa phù hợp với di n biến nội dung vụ án được chứng minh t i biên b n bắt người ph m tội qu tang, các vật chứng đã thu giữ trong vụ án, kết luận giám định về ma túy, cũng như chính lời khai của các bị cáo trong giai đo n điều tra, ngoài ra còn phù hợp với lời khai của những người tham gia t tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, ph n ánh đúng sự thật khách quan vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Kho ng 12 giờ 30 phút ngày 27/6/2023, t i khu đ thị Hà Phương thuộc địa phận th n 1, thị tr n V, huyện L, tỉnh Hà Nam; Trần Đức A đưa cho Chu Hoài N 500.000 đồng để mua ma túy lo i Heroine về sử dụng; N cầm tiền của Trần Đức A rồi điều khiển xe m t BKS 90B4 - 055.94 đến nhà Nguy n Qu c K ở th n 1, thị tr n V mua của K 02 gói ma túy, lo i Heroine với giá 500.000đ . Sau đó, quay l i đưa cho Trần Đức A 01 gói ma túy, còn 01 gói ma túy lo i Heroine kh i lượng 0,153g (không phẩy một trăm năm mươi ba gam) N cầm về với mục đích để bán cho người nghiện để hưởng lợi, khi đi đến tổ dân ph T, thị tr n V, huyện L thì Chu Hoài N bị lực lượng C ng an huyện Lý Nhân phát hiện, bắt qu tang. Khám xét kh n c p t i nhà Nguy n Qu c K còn thu giữ 0,384g (không phẩy ba trăm tám mươi tư gam) ma tuý, lo i Heroine và 1,938g (Một phẩy chín trăm ba mươi tám gam) ma tuý, lo i Methamphetamine (Tổng là 2,322 gam ma túy) K c t gi u với mục đích để bán kiếm lời và sử dụng cá nhân. Trần Đức A đã sử dụng hết s ma túy đã mua.

Hành vi nêu trên của Chu Hoài N và Nguy n Qu c K đã ph m vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội ph m và hình ph t được quy định t i kho n 1 Điều 251 BLHS.

Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với các bị cáo đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi ph m tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm ph m trực tiếp đến chính sách độc quyền qu n lý đặc biệt của Nhà nước đ i với ch t ma tuý, nh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự t i địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng các lo i tội ph m nguy hiểm khác, đe dọa trực tiếp đến đời s ng cộng đồng, với nhiều thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ làm xã hội m t ổn định. Vì vậy, cần thiết ph i xử lý nghiêm minh, áp dụng hình ph t tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nh t định mới đủ tác dụng giáo dục, c i t o các bị cáo trở thành c ng dân t t, cũng như đáp ứng c ng tác phòng ngừa tội ph m chung trong cộng đồng, đặc biệt là tội ph m về ma túy đang di n biến r t phức t p trong tình hình hiện nay trên địa bàn.

- Về vai trò: Trong vụ án này Chu Hoài N và Nguy n Qu c K đều thực hiện hành vi ph m tội độc lập, kh ng là đồng ph m trong vụ án.

- Về nhân thân: Bị cáo Chu Hoài N có nhân thân t t, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Nguy n Qu c K có nhân thân r t x u, cụ thể: Năm 2012 có 01 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản”; từ năm 2015 đến năm 2021 có đến 03 tiền án đềuvề tội“Trộm cắptàisản”, trongđócó01tiền ánnăm 2021chưa đượcxóa ántích.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Chu Hoài N kh ng ph i chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; bị cáo Nguy n Qu c K năm 2021 đã bị kết án chưa được xóa án tích nay l i tiếp tục ph m tội do c ý nên ph i chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo quy định t i điểm h kho n 1 Điều 52 BLHS.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như t i phiên tòa Chu Hoài N và Nguy n Qu c K đều thành kh n khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội, đồng thời thể hiện sự rõ ăn năn h i c i trước pháp luật, nên cùng được hưởng tình tiết gi m nhẹ quy định t i điểm s kho n 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, Chu Hoài N có: Mẹ đẻ có nhiều c ng hiến cho ngành giáo dục (được tặng thưởng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, Chiến sỹ thi đua cơ sở trong nhiều năm và nhiều Bằng khen, gi y khen khác); ng nội của bị cáo có thời gian dài c ng tác với lực lượng C ng an nhân dân; em trai của bị cáo được tặng thưởng Chiến sỹ thi đua cơ sở trong thời gian quân ngũ. Quá trình học tập bị cáo được tặng thưởng nhiều gi y khen và b n thân là lao động chủ yếu trong gia đình. Do đó, Chu Hoài N được hưởng thêm tình tiết gi m nhẹ quy định t i kho n 2 Điều 51 BLHS. HĐXX sẽ cân nhắc các tình tiết này để gi m nhẹ một phần hình ph t cho các bị cáo, t o điều kiện cho các bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng và th y được tính nhân đ o, c ng bằng của pháp luật đ i với người ph m tội.

Xét th y cần tiếp tục t m giam đ i với các bị cáo để đ m b o thi hành án hình sự, nên Quyết định t m giam mỗi bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật t tụng hình sự .

Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn c nh thực tế của Chu Hoài N hiện nay, nên mi n hình ph t bổ sung (là phạt tiền) cho bị cáo N. Áp dụng Điều 35 và kho n 5 Điều 251 BLHS ph t tiền đ i với Nguy n Qu c K, tuy nhiên, cũng cần xem xét đến điều kiện, hoàn c nh kinh tế hiện nay của bị cáo để n định mức ph t tiền cho phù hợp và đ m b o tính răn đe, phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Đ i với 03 chiếc điện tho i di động, gồm: 01 chiếc nhãn hiệu Masstel thu giữ của Trần Đức A; 01 chiếc nhãn hiệu Nokia thu giữ của Chu Hoài N; 01 chiếc nhãn hiệu Iphone 7 màu trắng thu giữ của Nguy n Qu c K. Đây là c ng cụ Trần Đức A và các bị cáo sử dụng làm phương tiện liên l c để mua, bán ma túy, còn giá trị sử dụng, nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 chiếc điện tho i di động Iphone 7 màu vàng, HĐXX xác định là tài s n hợp pháp của chị Nguy n Thị L (là chị gái của Nguy n Qu c K), không liên quan đến vụ án, do đó tr l i chiếc điện tho i này cho chị L.

- S tiền 660.000 đồng thu giữ của Nguy n Qu c K, HĐXX xác định: Trong đó: Có 500.000 đồng là tiền K bán ma túy mà có, nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước; 160.000 đồng còn l i là tiền cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi ph m tội, nên tr l i cho K, nhưng tiếp tục thu giữ để đ m b o nghĩa vụ thi hành án dân sự.

- Toàn bộ s ma tuý và mẫu vật (cân điện tử, túi nilon, lọ thủy tinh...) hoàn tr sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì và 03 hộp niêm phong là ch t Nhà nước c m tàng trữ, lưu hành và là c ng cụ để phân chia, c t giữ ma túy; 36 ng thủy tinh Nguy n Qu c K là tài s n của K, bị cáo kh ng yêu cầu nhận l i, nên tịch thu và tiêu hủy toàn bộ s vật chứng này.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo ph i nộp theo quy định pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề khác:

Đ i với Trần Đức A có hành vi mua và sử dụng trái phép ch t ma túy (đã sử dụng hết). Do không xác định được kh i lượng ma túy c t giữ, đồng thời xem xét nhân thân của Trần Đức A nên C ng an huyện Lý Nhân đã ra Quyết định xử ph t vi ph m hành chính đ i với Trần Đức A về hành vi sử dụng trái phép ch t ma túy là phù hợp pháp luật.

Đ i với đ i tượng đã bán ma túy cho Nguy n Qu c K do chỉ có duy nh t lời khai của K, ngoài ra không có b t cứ tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh về nhân thân, lai lịch của đ i tượng này nên Cơ quan CSĐT - C ng an huyện Lý Nhân kh ng có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý theo pháp luật. Do đó HĐXX kh ng đề cập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng: Kho n 1 Điều 251; điểm s kho n 1 Điều 51; điều 38 BLHS đ i với các bị cáo; Áp dụng thêm kho n 2 Điều 51 BLHS đ i với Chu Hoài N và điểm h kho n 1 Điều 52 BLHS đ i với Nguy n Qu c K.

Tuyên bố: Bị cáo Chu Hoài N và Nguy n Qu c K ph m tội “Mua bán trái phép chất matuý”.

Xử phạt:

Bị cáo Chu Hoài N 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời h n ch p hành hình ph t tù tính từ ngày 27/6/2023.

Bị cáo Nguy n Qu c K 05 (Năm) năm tù. Thời h n ch p hành hình ph t tù tính từ ngày 27/6/2023.

[2] Hình ph t bổ sung: Áp dụng Điều 35; kho n 5 Điều 251 BLHS: Ph t tiền bị cáo Nguy n Qu c K 3.000.000 (Ba triệu) đồng sung, nộp ngân sách Nhà nước.

[3] Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự.

- Tịch thu và tiêu hủy:

+ 02 phong bì niêm phong và 03 hộp niêm phong đều s 404/KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - C ng an tỉnh Hà Nam, ghi lần lượt là“Mẫu vật hoàn trả QT01; TG 01; KX 01; KX02; KX 03”.

+ 01 hộp bìa niêm phong ký hiệu KX04 của C ng an thị tr n Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện tho i di động Iphone 7 vỏ màu trắng, s IMEI : 355339082710750 ; 01 điện tho i di động Nokia, vỏ màu xanh, bị m t nắp p sau lưng; 01 điện tho i di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, lo i phím b m và s tiền 500.000 đồng.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc K: S tiền 160.000 đồng (Tiếp tục thu giữ số tiền này để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án dân sự đối với bị cáo)

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị L: 01 điện tho i di động Iphone 7 vỏ màu vàng, s IMEI : 359475080469514.

(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 12/9/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Lý Nhân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân; Số tiền xử lý nêu trên hiện đang gửi giữ tại ủy nhiệm chi số 15 lập ngày 12/9/2023 trong tài khoản số 3949.0.1036366 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân tại Kho bạc Nhà nước huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam).

[3] Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật t tụng hình sự; Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c Hội:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Chu Hoài N và Nguy n Qu c K mỗi bị cáo ph i nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- Quyền kháng cáo: Án xử c ng khai sơ th m, các bị cáo được quyền kháng cáo b n án trong thời h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo b n án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày nhận được b n án hoặc ngày b n án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ