vanban.org

Bản án 58/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Huỳnh Thị Kiều N đối với anh Nguyễn Văn N. Chị Huỳnh Thị Kiều N được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thái B, sinh ngày 02-10-2005 và cháu Nguyễn Hoài L, sinh ngày 27-01-2008 cho chị Huỳnh Thị Kiều N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị Huỳnh Thị Kiều N không yêu cầu anh Nguyễn Văn N cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con giữa Huỳnh Thị Kiều N - Nguyễn Văn N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Huỳnh Thị Kiều N đối với anh Nguyễn Văn N. Chị Huỳnh Thị Kiều N được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST
Ngày 10-8-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Yến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hùng;

Bà Dương Thị Mỹ Liên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Kiều N, sinh năm 1982; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp N1, xã N2, thị xã N3, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: ấp N4, xã N5, thị xã N3, tỉnh Tây Ninh. (có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1977; cư trú tại: Ấp N1, xã N2, thị xã N3, tỉnh Tây Ninh. (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 4 năm 2022 và bản tự khai - nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kiều N trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2004, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Xã N2, huyện N3 (nay là Xã N2, thị xã N3), tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới, chị về sinh sống cùng với gia đình chồng tại ấp N1, xã N2, thị xã N3, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh N cờ bạc, không chăm lo cho gia đình, chị có khuyên anh N nhiều lần nhưng anh N không thay đổi. Từ đó, tình cảm vợ chồng nhạt dần, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Tháng 02-2023 chị thuê phòng trọ và dọn ra ngoài sinh sống cho đến nay, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, anh N cũng không có thiện chí hàn gắn. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu ly hôn với anh N.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thái B, sinh ngày 02-10-2005 và Nguyễn Hoài L, sinh ngày 27-01-2008, hiện đang sống với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn N trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 18 tháng 7 năm 2023:

Anh và chị N chung sống với nhau từ năm 2004, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Xã N2, huyện N3 (nay là Xã N2, thị xã N3), tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới, vợ chồng sinh sống cùng với gia đình anh tại ấp N1, xã N2, thị xã N3, tỉnh Tây Ninh. Khoảng tháng 02-2023 chị N dọn ra ngoài sống riêng cho đến nay, nguyên nhân do anh cờ bạc. Anh và chị N có tự hòa giải nhưng không thành, nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thái B, sinh ngày 02-10-2005 và Nguyễn Hoài L, sinh ngày 27-01-2008, các con muốn sống với người nào thì người đó nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Huỳnh Thị Kiều N đối với anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thái B, sinh ngày 02-10-2005 và cháu Nguyễn Hoài L, sinh ngày 27-01-2008 cho chị Huỳnh Thị Kiều N tiếp tục nuôi dưỡng.

Ghi nhận chị Huỳnh Thị Kiều N không yêu cầu anh Nguyễn Văn N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huỳnh Thị Kiều N và anh Nguyễn Văn N trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kiều N và bị đơn anh Nguyễn Văn N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N, anh N.

Về hôn nhân: Chị N và anh N chung sống với nhau vào năm 2004, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Xã N2, huyện N3 (nay là Xã N2, thị xã N3), tỉnh Tây Ninh vào ngày 03-12-2004.

Theo chị N trình bày thì quá trình chung sống, anh N ham mê cờ bạc, không chăm lo cho gia đình, chị đã khuyên nhiều lần nhưng anh N không thay đổi, hiện tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02-2023 cho đến nay, nay chị N yêu cầu ly hôn với anh N.

Xét tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và anh N đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N. Do đó, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.

Về con chung: Vợ chồng chị N, anh N có 02 người con chung là cháu Nguyễn Thái B, sinh ngày 02-10-2005 và cháu Nguyễn Hoài L, sinh ngày 27-01-2008. Hiện cháu B, cháu L đang sinh sống cùng với chị N và có nguyện vọng được sống cùng với chị N. Mặt khác, chị N có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu B, cháu L và anh N không tranh chấp về việc nuôi con. Do đó, cần giao cháu B, cháu L cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận chị N không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N, anh N trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 thì nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kiều N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Huỳnh Thị Kiều N đối với anh Nguyễn Văn N. Chị Huỳnh Thị Kiều N được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thái B, sinh ngày 02-10-2005 và cháu Nguyễn Hoài L, sinh ngày 27-01-2008 cho chị Huỳnh Thị Kiều N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ghi nhận chị Huỳnh Thị Kiều N không yêu cầu anh Nguyễn Văn N cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị Huỳnh Thị Kiều N và anh Nguyễn Văn N trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Huỳnh Thị Kiều N và anh Nguyễn Văn N trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Kiều N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027247 ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng; chị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Chị Huỳnh Thị Kiều N, anh Nguyễn Văn N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ