vanban.org

Bản án 58/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Thu M được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

[2]. Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Thị A, sinh năm 1998, Nguyễn Chí N, sinh năm 2002 đã trưởng thành, nên không đặt ra giải quyết. [3]. Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai - Thảo"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Thu M được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 02-06-2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Hùng

2. Ông Phan Kiên Nhẫn

- Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Chanh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình tham gia phiên toà: Không.

Trong ngày 02 tháng 06 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2023/TLST-HNGĐ, ngày 09/02/2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11/04/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 08/05/2023 giữa các đương sự:

- Nguyeân ñôn: Chị Trương Thị Thu M, sinh năm 1978 (xin vắng)

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

- Bò ñôn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện đề ngày 25/05/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị Thu M trình bày:

Vào năm 1998 qua quen biết chị và anh Nguyễn Thanh T có tiến tới hôn nhân, có làm lễ cưới và sau đó có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long ngày 06/05/2002.

Sau khi kết hôn thì thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc kéo dài khoảng 15 năm đến năm 2013 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến với nhau về những việc trong cuộc sống gia đình, anh T còn có quan hệ tình cảm với người khác, gia đình bên chồng biết nhưng không có ý kiến gì. Chị có nói chuyện với anh T về việc đoàn tụ nhưng không được. Do vậy vợ chồng sống ly thân từ tháng 06/2013 cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị A, sinh năm 1998, Nguyễn Chí N, sinh năm 2002 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Thanh T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không trình bày.

- Ngày 11/04/2023, nguyên đơn chị Trương Thị Thu M có đơn xin vắng mặt, chị có ý kiến trình bày: Chị M yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Thanh T. Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị A, sinh năm 1998, Nguyễn Chí N, sinh năm 2002 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài các yêu cầu trên, các đương sự không có yêu cầu nào khác và cũng không có cung cấp tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

Nguyên đơn chị Trương Thị Thu M khởi kiện yêu cầu ly hôn nên đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn”; bị đơn anh Nguyễn Thanh T cư trú tại xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, nguyên đơn chị Trương Thị Thu M có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử thống nhất đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về pháp luật nội dung:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Thu M và anh Nguyễn Thanh T qua quen biết rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long ngày 06/05/2002, nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị Trương Thị Thu M trình bày: Sau khi kết hôn thì thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc kéo dài khoảng 15 năm đến năm 2013 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến với nhau về những việc trong cuộc sống gia đình, anh T còn có quan hệ tình cảm với người khác, gia đình bên chồng biết nhưng không có ý kiến gì. Chị có nói chuyện với anh T về việc đoàn tụ nhưng không được. Do vậy vợ chồng sống ly thân từ tháng 06/2013 cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân của vợ chồng phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên hiện tại vợ chồng chị M, anh T đã sống ly thân từ tháng 06/2013 cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, từ đó cho đến nay vợ chồng vẫn không đoàn tụ được. Qua đó cho thấy hôn nhân của chị M và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “... Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

[2]. Về con chung: Chị Trương Thị Thu M khai có con chung với anh Nguyễn Thanh T là Nguyễn Thị A, sinh năm 1998, Nguyễn Chí N, sinh năm 2002 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét thấy chị M khai chị và anh T có 02 con chung đã trưởng thành và anh Nguyễn Thanh T cũng chưa có văn bản nào trình bày về con chung khác với yêu cầu của chị T, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị Thu M khai các con đã trưởng thành, không yêu cầu và anh Phan Minh T cũng chưa có văn bản nào trình bày về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị Thu M khai chưa yêu cầu, anh Nguyễn Thanh T cũng chưa có văn bản nào trình bày về tài sản chung, nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019;

Căn cứ các Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Thu M được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

[2]. Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Thị A, sinh năm 1998, Nguyễn Chí N, sinh năm 2002 đã trưởng thành, nên không đặt ra giải quyết.

[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.

[4]. Về án phí: Chị Trương Thị Thu M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số No 0011207 ngày 09/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Chị Trương Thị Thu M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ