vanban.org

Bản án 58/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Tuyết A đối với anh Huỳnh Đức L.

Chị Phạm Thị Tuyết A được ly hôn với anh Huỳnh Đức L. Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Huỳnh Phúc A1, sinh ngày 06/01/2010. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thị Tuyết A yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Đức L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Tuyết A đối với anh Huỳnh Đức L.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09/8/2023
Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DA

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

NINH

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phụng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đăng Thanh Quang.

2. Ông Võ Quang Truyền.

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hiên – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Tuyết A, sinh năm 1974 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: số 01A, ấp TrL, xã TrĐ, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh.

Bị đơn: Anh Huỳnh Đức L, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Địa chỉ: số 01A, ấp TrL, xã TrĐ, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 28/02/2023, biên bản lấy lời khai ngày 05/4/2023 chị Phạm Thị Tuyết A, trình bày:

Chị A và anh L bắt đầu chung sống từ đầu năm 2009, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn, anh chị kết hôn do mai mối nên hai bên cũng không có tình cảm với nhau. Sau khi cưới, anh chị sống bên nhà anh L được 05 tháng khi chị A có bầu thì không sống nổi nữa nên chị A về nhà ba mẹ chị A sống, ba mẹ chị A cho chị A đất và cất nhà cho chị A ở, anh L về sống chung với chị A. Từ khi có con, anh L không phụ chị A nuôi con cũng như chăm sóc con, anh L không chịu đi làm, thường xuyên nhậu nhẹt, chị A phải tự đi làm, tự nuôi con, anh L còn thường xuyên kêu chị A nộp đơn ly hôn. Vợ chồng vẫn sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai, nay chị A không muốn tiếp tục sống như vậy nữa nên chị A yêu cầu ly hôn với anh L.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Huỳnh Phúc A1, sinh ngày 06/01/2010, khi ly hôn chị A yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Đương sự không trình bày gì thêm.

Bị đơn anh Huỳnh Đức L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Toà án để làm việc, dự phiên họp, hoà giải và dự phiên toà.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Tuyết A đối với anh Huỳnh Đức L. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Phúc A1, sinh ngày 06/01/2010 cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận chị A không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Phạm Thị Tuyết A có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Huỳnh Đức L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị A và anh L là phù hợp quy định tại Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

. Về hôn nhân:

Xét về quan hệ hôn nhân của chị Phạm Thị Tuyết A và anh Huỳnh Đức L thấy rằng: Anh chị bắt đầu chung sống từ năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TrĐ. Hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.

Chị A trình bày: Anh chị kết hôn do mai mối nên hai bên cũng không có tình cảm với nhau. Sau khi cưới, anh chị sống bên nhà anh L được 05 tháng khi chị A có bầu thì không sống nổi nữa nên chị A về nhà ba mẹ chị A sống, ba mẹ chị A cho chị A đất và cất nhà cho chị A ở, anh L về sống chung với chị A. Từ khi có con, anh L không phụ chị A nuôi con cũng như chăm sóc con, anh L không chịu đi làm, thường xuyên nhậu nhẹt, chị A phải tự đi làm, tự nuôi con, anh L còn thường xuyên kêu chị A nộp đơn ly hôn. Vợ chồng vẫn sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai, nay chị A không muốn tiếp tục sống như vậy nữa nên chị A yêu cầu ly hôn với anh L.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh L nhiều lần để làm việc, hòa giải và tham dự phiên họp, phiên tòa nhưng anh L không đến Tòa án, thể hiện anh L đã không còn tôn trọng và quan tâm đến quan hệ vợ chồng giữa anh L và chị A. Anh chị đã mâu thuẫn thời gian dài nhưng không giải quyết được, nhận thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A đối với anh L là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

. Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Huỳnh Phúc A1, sinh ngày 06/01/2010, khi ly hôn chị A yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con, cháu A1 có nguyện vọng được sống chung với chị A trong trường hợp cha mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu A1 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị A không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản chung: Chị A trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về nợ chung: Chị A trình bày không có.

. Về án phí: Chị A phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Tuyết A đối với anh Huỳnh Đức L.

Chị Phạm Thị Tuyết A được ly hôn với anh Huỳnh Đức L.

2. Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Huỳnh Phúc A1, sinh ngày 06/01/2010.

Chị Phạm Thị Tuyết A được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Huỳnh Phúc A1, sinh ngày 06/01/2010.

Ghi nhận chị A không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị A trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị A trình bày không có.

5. Về án phí: Chị Phạm Thị Tuyết A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị A đã nộp theo biên lai thu số 0021355 ngày 14/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị A đã nộp xong tiền án phí.

Chị Phạm Thị Tuyết A và anh Huỳnh Đức L vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.

Cỡ chữ