vanban.org

Bản án 58/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 91, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lương Trần ThA T. Chị Lương Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 91, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/6/2023
V/v: “Ly hôn, trA chấp về nuôi con”

NHÂN DA

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Ngô Đình Bảo Thiện

2/ Ông Nguyễn Văn Tới

- T ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Trinh - T ký Tòa án nhân dân huyện

Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 26 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận

Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 68/2023/TLST-

HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023, về việc “Ly hôn, trA chấp về nuôi con”; Theo

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/5/2023,

Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08/6/2023, giữa các

đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lương Trần ThA T, sinh năm 1996

Địa chỉ: thôn T, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: A Nguyễn ThA H, sinh năm 1995

Địa chỉ: thôn 6, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt chị T; Vắng mặt A H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 07/3/2023, bản khai của nguyên đơn chị Lƣơng

Trần ThA T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và A Nguyễn ThA H cưới nhau vào năm 2019,

có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hàm Chính, huyện Hàm Thuận Bắc

theo giấy đăng ký kết hôn số 27 ngày 28/02/2019. Việc cưới nhau là do hai bên tự

nguyện, không ai ép buộc và được gia đình hai bên đồng ý. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp quan điểm sống, vợ chồng Tờng xuyên cãi nhau, A H bỏ bê gia đình không quan tâm đến vợ con, Tờng xuyên cờ bạc, rượu chè. Chị đã nhiều lần khuyên ngăn và cho A H cơ hội sửa chữa nhưng vẫn chứng nào tật nấy, không hề thay đổi. Vợ chồng mâu thuẫn càng ngày trầm trọng, không thể hàn gắn. Vợ chồng không còn sống chung với nhau gần hai năm nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của chị là yêu cầu xin được ly hôn với A Nguyễn ThA H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Lương Huyền A,

sinh ngày 07/9/2019. Hiện nay con đang sống cùng chị T. Khi ly hôn, chị xin được quyền trực tiếp nuôi con, không yêu cầu A H cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, do A Nguyễn ThA H vắng mặt nên chị yêu cầu Tòa giải quyết

theo quy định của pháp luật.

Bị đơn A Nguyễn ThA H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của

Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng như ghi lời khai, lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật trA chấp và thẩm quyền:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung với bị đơn A

Nguyễn ThA H. Đây là trA chấp về ly hôn, nuôi con. Bị đơn đăng ký hộ khẩu Tờng trú tại thôn 6, xã Hàm Chính, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn A Nguyễn ThA H đã được tống đạt các văn

bản tố tụng và được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt, chứng tỏ A H tự từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với A Nguyễn ThA H.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị Lương Trần ThA T và A Nguyễn

ThA H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hàm Chính, huyện Hàm Thuận

Bắc theo giấy đăng ký kết hôn số 27 ngày 28/02/2019. Đây là hôn nhân hợp pháp,

phù hợp với quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình. Xét yêu cầu xin

ly hôn của chị Lương Trần ThA T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo chị T trình

bày, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do không hợp quan điểm sống, vợ chồng

Tờng xuyên cãi nhau, A H bỏ bê gia đình không quan tâm đến vợ con, Tờng

xuyên cờ bạc, rượu chè. Chị đã nhiều lần khuyên ngăn và cho A H cơ hội sửa chữa

nhưng vẫn chứng nào tật nấy, không hề thay đổi. Vợ chồng mâu thuẫn càng ngày

trầm trọng, không thể hàn gắn. Vợ chồng không còn sống chung với nhau gần hai

năm nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của

chị là yêu cầu xin được ly hôn với A Nguyễn ThA H.

Xét mâu thuẫn của chị T và A H đã trầm trọng, thể hiện qua việc khi Tòa án

thông báo về yêu cầu ly hôn của chị T thì A H không có ý kiến hay tác động gì để

hàn gắn gia đình mà bỏ mặc; khi tòa án tổ chức hòa giải đoàn tụ thì A H vắng mặt

không tham dự hòa giải. Việc đó thể hiện ý thức xem Tờng pháp luật, không thiết

tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử

theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa chị

Lương Trần ThA T và A Nguyễn ThA H thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng,

mục đích hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài cuộc sống chung. Căn cứ

vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn

của chị Lương Trần ThA T.

- Về con chung: Chị Lương Trần ThA T và A Nguyễn ThA H có 01 con

chung tên Nguyễn Lương Huyền A, sinh ngày 07/9/2019. Hiện nay con đang sống

cùng chị T. Khi ly hôn, chị xin được quyền trực tiếp nuôi con.

Xét yêu cầu về nuôi con của chị T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Từ ngày chị

T và A H sống ly thân, chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục

cháu A và hiện nay cháu A còn nhỏ. Do đó, để không làm thay đổi môi trường

sống của cháu A nên giao con chung tên Nguyễn Lương Huyền A, sinh ngày

07/9/2019 cho chị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, đúng quy định

pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không

xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không

xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Lương Trần ThA T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn

sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

A Nguyễn ThA H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 91, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Điều 146, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lương Trần ThA T. Chị Lương

Trần ThA T được ly hôn với A Nguyễn ThA H.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lương Huyền A, sinh ngày

07/9/2019 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu nên Hội

đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

A Nguyễn ThA H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai

được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không

xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lương Trần ThA T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn

đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T đã nộp đủ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0014436 ngày 15/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa.

A Nguyễn ThA H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15

ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/6/2023). Đối với đương sự vắng mặt

có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ

ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ