vanban.org

Bản án 58/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Chu Văn Th được ly hôn chị Nguyễn Thị H .

Về con chung: Không giải quyết. Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản, vay nợ chung của vợ chồng: Không giải quyết Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án dân sự thụ lý số 170/2023/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Chu Văn Th được ly hôn chị Nguyễn Thị H .
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:58/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/9/2023
"V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Thái Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Văn Dũng

2. Ông: Nguyễn Thế Anh .

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Xuân Quảng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: Bà Tăng Thi Thu H – Chức vụ; Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn châu, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 170/2023/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:112/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 123/2023/QĐ – ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Chu Văn Th, sinh năm 1974.

Trú tại: xóm 4, xã Diễn Quỳnh, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H , sinh năm 1982.

Địa chỉ: xóm 9, xã Diễn Đoài, huyện Diễn Châu, Nghệ An. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 07 tháng 12 năm 2022 và lời khai tại bản khai có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Chu Văn Th trình bày: Anh Th và chị Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn vào ngày 20/7/1998 tại UBND xã Diễn Đoài, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, theo giấy đăng ký kết hôn số 08/1998 quyển số 08/1998. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. vào khoảng năm 2017 thì hai người phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là khi chị H vào Đà nẵng làm kinh tế và từ đó chị H không còn quan tâm chăm lo xây dựng cuộc sống gia đình, đỉnh điểm là năm 2019 chị H và anh Th cải vả xích mích làm ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình mâu thuẫn trầm trọng, Chị H và anh Th đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, chị H Thỉnh thoảng có đi lại về địa phương, nhưng chị H chỉ về nhà hỏi han con cái rồi tiếp tục vào Đà Nẵng. Nay anh Th đề nghị tòa án nhân dân huyện Diễn Châu giải quyết ly hôn giữa anh Th và chị H .

- Về con chung: Quá trình chung sống hai người có hai con chung Chu Thị Thu H , sinh ngày 4/8/1999 và cháu Chu Đức L sinh ngày 28/3/2002. Hiện các cháu đã đủ 18 tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Quá trình chung sống hai người có lập được một khối tài sản nhỏ. Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Toà sơ thẩm nguyên đơn có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, có mặt tại phiên họp tiếp cận công khai kiểm tra chứng cứ và phiên hòa giải tiến hành các bước thu thập chứng cứ, hòa giải theo quy định pháp luật. Bị đơn chị Nguyễn Thị H mặc dù Tòa án đã giao giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác đúng quy định Pháp luật nhưng chị H không đến Tòa án làm việc. Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng chị H không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không có mặt tại phiên họp tiếp cận công khai kiểm tra chứng cứ và phiên hòa giải. Tại phiên tòa lần thứ nhất chị H vắng mặt mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản Tố tụng hợp pháp, phiên Tòa lần thứ hai chị H tiếp tục vắng mặt. Xét thấy chị H không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân này, chị H bỏ mặc không cần xem hậu quả của việc ly hôn, cần xét xử vắng mặt chị H theo quy định của Pháp luật.

Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng, đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử cũng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật trong quá trình xét xử, không có vi phạm về thủ tục.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của nguyên đơn ý kiến trình bày của kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn. chấp hành theo quyết định của tòa án, ccủủaa Cơ quan tiến hành tố tụng tại phiên tòa thứ nhất nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt, phiên tòa thứ hai bị đơn chị Nguyễn Thị H tiếp tục vắng mặt nên áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H .

Về tình trạng hôn nhân: Căn cứ vào tài liệu có tại hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự và các tài liệu do tòa án thu thập được có đủ căn cứ xác định: Anh Chu Văn Th và chị Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn vào 20/7/1998 tại UBND xã Diễn Đoài, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, theo giấy đăng ký kết hôn số 08/1998 quyển số 08/1998. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, hôn nhân này được pháp luật bảo vệ. Về nguyên nhân mâu thuẫn: vào khoảng năm 2017 thì hai người phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là khi chị H vào Đà nẵng làm kinh tế và từ đó chị H không còn quan tâm chăm lo xây dựng cuộc sống gia đình, đỉnh điểm là năm 2019 chị H và anh Th cải vả xích mích làm ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình mâu thuẫn trầm trọng, Chị H và anh Th đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không còn đi lại, quan tâm nhau. Nay anh Chu Văn Th yêu cầu tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị H , là có căn cứ cần được chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống hai người có hai con chung Chu Thị Thu H , sinh ngày 4/8/1999 và cháu Chu Đức L sinh ngày 28/3/2002. Xét thấy các cháu đã đủ 18 tuổi trưởng thành, anh Th không yêu cầu giải quyết, Tòa án không xem xét.

Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản, vay nợ chung của vợ chồng: Trong vụ án này anh Chu Văn Th không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Tòa án không xem xét, chị H vắng mặt và Tòa án không nhận được ý kiến gì về mối quan hệ này, nếu có thì chị H có thể khởi kiện bằng một vụ án khác.

Về án phí: anh Chu Văn Th phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: vào khoản 3 điều 144, khoản 4 điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 khoản 3 điều 228 ; Điều 266, 271 khoản 1 điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 51; 54; 56; khoản 1 Điều 59; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban tH vụ quốc hội về án phí, lệ phí của tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Chu Văn Th được ly hôn chị Nguyễn Thị H .

2. Về con chung: Không giải quyết.

3. Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản, vay nợ chung của vợ chồng: Không giải quyết

4. Án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, buộc anh Chu Văn Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào khoản tiền dự phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo biên lai số 0004177 ngày 24/5/2023, anh Chu Văn Th đã nộp đủ án phí DSST.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ