vanban.org

Bản án 58/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T ly hôn với anh Sơn T1.

Về nuôi con chung: Giao cháu Sơn Thị Thu T2 sinh ngày 12/9/2011 và S Nguyễn Thúy V sinh ngày 21/12/2017 cho chị T nuôi dưỡng. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T ly hôn với anh Sơn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 17 Luật Phí và lệ phí; Điều 2257 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST
Ngày 09-6-2023
V/v ly hôn giữa chị T và anh T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thanh Vũ

2. Bà Nguyễn Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Quốc Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 38/2023TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 130/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Ấp N, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre “có mặt”

2. Bị đơn: Anh Sơn T1, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 12/12/2022, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị T và anh T1 xác lập hôn nhân năm 2011, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng gần đây phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan niệm sống. Vợ chồng ly thân từ năm 2018 đến nay. Xét thấy, vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau nên chị T xin ly hôn. Về nuôi con chung: Anh, chị có 02 con chung tên Sơn Thị Thu T2 sinh ngày 12/9/2011 và Sơn Nguyễn Thúy V sinh ngày 21/12/2017. Chị T yêu cầu được nuôi 02 con, không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung, về nghĩa vụ trả nợ: không có.

Bị đơn anh Sơn T1 trình bày: Anh T1 thống nhất với lời trình bày của chị T thời gian xác lập hôn nhân, con chung, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Về hôn nhân anh T1 đồng ý ly hôn. Anh T1 tranh chấp quyền nuôi con đối với chị T. Tài sản chung, nghĩa vụ trả nợ: không có.

Tại phiên tòa:

Chị T xin ly hôn với anh T1. Về nuôi con chung: Vợ chồng tranh chấp quyền nuôi con.Về yêu cầu chia tài sản, nghĩa vụ trả nợ: không có.

Anh T1 vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Về tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, qua phân tích đánh giá chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị T ly hôn với anh T1. Con chung giao cho chị T nuôi dưỡng, ghi nhận chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ nhận định:

Về tố tụng: Anh T1 là bị đơn, được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T1.

[2.] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 xác lập hôn nhân năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng có thời gian dài chung sống hạnh phúc nhưng gần đây phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vã, bất hòa. Vợ chồng đã nhiều lần tìm biện pháp khắc phục nhưng mâu thuẫn lại phát sinh. Tại phiên tòa, anh T1 vắng mặt, nhưng quá trình tố tụng anh T1 đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị T ly hôn với anh T1.

Về nuôi con chung: Anh T1 có tranh chấp quyền nuôi con chung với chị T. Tuy nhiên, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, các con đều do chị T nuôi dưỡng, theo nguyện vọng của các con cũng mong muốn được chung sống cùng mẹ. Do đó, để ổn định về mặt tâm lý và điều kiện sinh hoạt, học tập của các con nên giao con cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên không xem xét.

Về chia tài sản: Không có.

Về nghĩa vụ trả nợ: không có.

Về án phí: Chị T phải nộp 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 2257, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 17 Luật Phí và lệ phí; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T ly hôn với anh Sơn T1.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Sơn Thị Thu T2 sinh ngày 12/9/2011 và S Nguyễn Thúy V sinh ngày 21/12/2017 cho chị T nuôi dưỡng.

Ghi nhận chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh T1 không ai có quyền càn trở. Tuy nhiên, anh T1 không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu có thì chị T có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom của anh T1.

Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.

3. Về chia tài sản: Không có.

4. Nghĩa vụ trả nợ: Không có.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đồng chị T đã nộp theo biên lai thu số 0009797 ngày 13/3/2023 thành tiền án phí.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thị hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, sửa đổi bổ sung Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ