- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Nguyễn Thị MH và anh Lương Ngọc H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị MH và anh Lương Ngọc H là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23-5-2023 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đoàn Thị Kiều Oanh
2. Ông Nguyễn Văn Bàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị MH, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1976 (có mặt);
2. Bị đơn: Anh Lương Ngọc H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1973 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: ấp BBB, xã NY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 09/3/2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị MH trình bày và yêu cầu như sau:
Chị và anh Lương Ngọc H chung sống với nhau vào năm 1997, chị và anh Lương Ngọc H có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Chị và anh Lương Ngọc H có 01 người con chung tên: Lương NH, sinh ngày 03/11/1999, hiện nay đã thành niên; về tài sản chung, chị và anh Lương Ngọc H không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết; về nợ, chị và anh Lương Ngọc H không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị. Quá trình chung sống chị và anh Lương Ngọc H sống không hòa hợp, thường xuyên bất hòa cự cãi với nhau, đến tháng 11/2022 chị và anh Lương Ngọc H sống ly thân cho đến nay. Chị thấy, chị và anh Lương Ngọc H không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Về quan hệ hôn nhân, chị yêu cầu được ly hôn với anh Lương Ngọc H. Về quan hệ con chung, hiện nay đã thành niên, chị không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ, chị và anh Lương Ngọc H không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị và chị không yêu cầu giải quyết.
* Tại Biên bản lấy lời khai của ngày 29/3/2023 và đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án ngày 29/3/2023, bị đơn anh Lương Ngọc H trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân, anh thống nhất ly hôn với chị Nguyễn Thị MH; về quan hệ con chung, anh xác định anh với chị Nguyễn Thị MH có 01 người con chung tên: Lương NH, sinh ngày 03/11/1999, hiện nay đã trưởng thành, anh không yêu cầu giải quyết gì. Anh bận công việc gia đình nên anh yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt anh trong quá trình giải quyết vụ án.
* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: Đơn xác nhận tình trạng chưa đăng ký kết hôn ngày 09/3/2023 của chị Nguyễn Thị MH (Bản chính); Căn cước công dân tên Nguyễn Thị MH, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1976, Lương Ngọc H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1973 và Lương NH, sinh ngày 03 tháng 11 năm 1999 (Bản sao); Đơn xin xác nhận tình trạng cư trú của đương sự ngày 09/3/2023 của chị Nguyễn Thị MH (Bản chính); Đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết và xét xử ngày 29/3/2023 của anh Lương Ngọc H (Bản chính); Biên bản lấy lời khai của ngày 27/4/2023 của chị Nguyễn Thị MH (Bản chính).
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị MH yêu cầu được ly hôn với anh Lương Ngọc H. Về quan hệ con chung, về tài sản chung và nợ, chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Lương Ngọc H có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện các thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, xác định mối quan hệ pháp luật, đưa tư cách đương sự tham gia tố tụng, về thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh, tống đạt các văn bản tố tụng và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát đúng trình tự thủ tục và thời gian quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 48, Điều 51, Điều 68, các Điều 208, 209, 210, 211, 239 và Điều 247 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết và xét xử, đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Xét đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị MH yêu cầu được ly hôn với anh Lương Ngọc H, nhưng anh chị chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn nên đề nghị Hội đồng xử xử không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị MH và anh Lương Ngọc H là vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị MH và anh Lương Ngọc H không yêu cầu giải quyết về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị MH yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Lương Ngọc H. Nguyên đơn và bị đơn đều nơi cư trú tại: ấp BBB, xã NY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lương Ngọc H biết và ấn định thời gian để anh có ý kiến về việc chị Nguyễn Thị MH khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh, đến ngày 29 tháng 3 năm 2023 anh Lương Ngọc H gửi đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án. Như vậy, đây là thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Tại phiên toà hôm nay, chị Nguyễn Thị MH không yêu cầu hoãn phiên toà. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Lương Ngọc H theo quy định tại khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân, chị Nguyễn Thị MH và anh Lương Ngọc H chung sống với nhau vào năm 1997, đến nay anh chị không có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã, thị trấn nơi anh chị cư trú) là vi phạm quy định về đăng ký kết hôn của Luật Hôn nhân và gia đình 1986, năm 2000 và năm 2014. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị MH yêu cầu được ly hôn với anh Lương Ngọc H thì anh Lương Ngọc H cũng đồng ý ly hôn, nhưng anh chị không có đăng ký kết hôn. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị MH và anh Lương Ngọc H là vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung, chị Nguyễn Thị MH và anh Lương Ngọc H chung sống với nhau có 01 người con chung tên: Lương NH, sinh ngày 03/11/1999, hiện nay đã thành niên, anh chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ: Chị Nguyễn Thị MH và anh Lương Ngọc H tự xác định, anh chị không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và anh chị không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị MH và anh Lương Ngọc H là vợ chồng.
2. Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị MH và anh Lương Ngọc H chung sống với nhau có 01 người con chung tên: Lương NH, sinh ngày 03/11/1999, hiện nay đã thành niên, anh chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ: Chị Nguyễn Thị MH và anh Lương Ngọc H tự xác định, anh chị không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và anh chị không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
4. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị MH phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003988 ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Nguyễn Thị MH đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 23/5/2023. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - Chi cục THADS huyện An Biên; - Các đương sự; - Lưu: HSVA,VP (Kiều). | Trần Văn Thảo |