vanban.org

Bản án 58/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 12/09/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vụ án dân sự thụ lý số 81/2022/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét…"
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/DS-ST
Ngày: 12 - 9 - 2023
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH

TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Lý Xuyên

2. Ông Cao Nho Trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 81/2022/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Kiều T, sinh năm: 1992

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thành phố C tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

* Bị đơn: Bà Trần Thị Hoàng X, sinh năm: 1995

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ngày 20/6/2022 tôi (Ngô Thị Kiều T) có cho bà Trần Thị Hoàng X vay số tiền 72.248.000 đồng (Bảy mươi hai triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn đồng) và hẹn 3 tháng sau trả (từ ngày 01/7/2022 đến 01/10/2022). Hai bên có lập biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 20/6/2022. Tuy đã đến hạn từ lâu nhưng bà Trần Thị Hoàng X không trả nên tôi làm đơn khởi kiện và đề nghị Tòa án buộc bà Trần Thị Hoàng X phải trả cho tôi số tiền nợ là 72.248.000 đồng (bảy mươi hai triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn đồng). Nguyên đơn không yêu cầu tiền lãi.

Tại phiên tòa hôm nay, tôi giải thích thêm nội dung tại Biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 20/6/2022 nợ như sau: Bà X xác nhận tôi cho bà X vay số tiền 72.248.000 đồng (Bảy mươi hai triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn đồng), hình thức bà X thanh toán (trong giấy ghi tắt là “TT”) cho tôi là bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản (nhưng chưa thực hiện). Thời điểm thanh toán là trong thời hạn 3 tháng từ 01/7/2022 đến 01/10/2022 nhưng đến nay bà X vẫn không trả.

Tôi giữ nguyên yêu cầu buộc bà Trần Thị Hoàng X phải trả cho tôi số tiền nợ là 72.248.000 đồng (Bảy mươi hai triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn vắng mặt.

* Phát biểu tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh kết luận:

- Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

- Quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Bà Ngô Thị Kiều T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thị Hoàng X phải trả số tiền nợ là 72.248.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chứng minh giữa bà Ngô Thị Kiều T và bà Trần Thị Hoàng X có quan hệ vay mượn tiền với nhau. Bà Ngô Thị Kiều T đã cho bà Trần Thị Hoàng X vay 72.248.000 đồng (Bảy mươi hai triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn đồng) theo Biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 20/6/2022 (bút lục 16). Các bên đã thực hiện giao dịch vay tiền hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên đủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo các Điều 117, 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đến thời hạn thanh toán, bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn theo cam kết nên nguyên đơn có quyền khởi kiện và bị đơn có nghĩa vụ trả đủ tiền khi đến hạn theo quy định tại các Điều 280, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bà Trần Thị Hoàng X có nghĩa vụ trả cho bà Ngô Thị Kiều T số tiền là 72.248.000 đồng (Bảy mươi hai triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn đồng). Nguyên đơn không yêu cầu tiền lãi nên không xét.

Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ:

- Các Điều 26, 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 117, 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn bà Trần Thị Hoàng X phải trả cho bà Ngô Thị Kiều T số tiền 72.248.000 đồng (Bảy mươi hai triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

2. Về án phí:

- Bà Trần Thị Hoàng X phải chịu 3.612.000 đồng (Ba triệu sáu trăm mười hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn lại cho bà Ngô Thị Kiều T 903.000 đồng (Chín trăm không ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2022/0000524 ngày 07/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

* Quy định chung:

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ