- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T yêu cầu bà Đặng Thị C thanh toán khoản nợ vay"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2023/DS-ST Ngày 19 – 6 – 2023 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Mầm.
Ông Nguyễn Văn Sol.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm là Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 19 tháng 6 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại điểm cầu trung tâm là Tòa án nhân dân huyện Cái Nước và điểm cầu thành phần tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T – Chi nhánh Cà Mau vụ án thụ lý số: 24/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T.
Địa chỉ: 266 –, phường 8, Quận 3, Thành p ..
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Diệp Lâm Kỳ Phương – Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phương: Ông Nguyễn Phước Hưng – Chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ.
Địa chỉ: 164A, Nguyễn Tất Thành, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Đặng Thị C, sinh năm 1992.
Cư trú tại: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh C ..
Tại điểm cầu trung tâm: Bà C vắng mặt.
Tại điểm cầu thành phần: Ông Hưng có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/02/2023 và các lời khai tại Tòa án người đại diện theo ủy quyền (nguyên đơn) trình bày:
Vào ngày 05/3/2018 Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T – Chi nhánh Cà Mau (gọi tắt là Ngân hàng) có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với bà Đặng Thị C, hạn mức cấp thẻ tín dụng là 10.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận trong hạn 2,5%/tháng, lãi suất quá hạn theo quy định 150% lãi suất trong hạn, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 86.114.000 đồng. Sau đó, bà C đã thanh toán tổng số tiền vốn và lãi là 92.236.000 đồng. Do bà C vi phạm nghĩa vụ thanh toán ngày 14/7/2022 Ngân hàng thông báo cho bà C biết việc thu hồi nợ thẻ tín dụng và có biên bản làm việc với bà C để yêu cầu bà C thanh toán số tiền nợ nhưng bà C không ký tên biên bản, đến ngày 14/10/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Sau đó, Ngân hàng đã làm việc với bà C nhiều lần nhưng bà C không có thiện chí trả nợ. Tính đến ngày 03/02/2023 bà C còn nợ tổng là 13.349.086 đồng. Trong đó, nợ gốc 11.895.470 đồng, lãi trong hạn 969.077 đồng và lãi quá hạn 484.539 đồng. Đồng thời, bà C có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh tính từ sau ngày 03/02/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu bà C phải trả tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 15.467.654 đồng. Trong đó, nợ gốc 11.895.470 đồng và lãi quá hạn 3.572.184 đồng. Đồng thời, bà C có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh tính từ ngày 20/6/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Đối với bà Đặng Thị C, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T nhưng bà C không có ý kiến. Tòa án thông báo để bà C tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng bà C vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải giữa các đương sự được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn bà Đặng Thị C tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bà C vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà C theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Tranh chấp giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T với bị đơn bà Đặng Thị C là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Đặng Thị C có địa chỉ cư trú tại ấp Đức An, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Tại đơn khởi kiện Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T yêu cầu bà Đặng Thị C trả tổng số tiền tính đến ngày 03/02/2023 là 13.349.086 đồng. Trong đó, nợ gốc 11.895.470 đồng, lãi trong hạn 969.077 đồng và lãi quá hạn 484.539 đồng. Đồng thời, bà C có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh tính từ sau ngày 03/02/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu bà C phải trả tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 15.467.654 đồng. Trong đó, nợ gốc 11.895.470 đồng và lãi quá hạn 3.572.184 đồng. Đồng thời, bà C có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh tính từ ngày 20/6/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Xét thấy, từ khi Tòa án thụ lý đến khi xét xử, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của Ngân hàng, triệu tập bà Đặng Thị C nhiều lần nhưng bà C đều vắng mặt và không có ý kiến bằng văn bản gửi đến Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình nên mặc nhiên bà C thừa nhận số nợ Ngân hàng yêu cầu. Mặt khác, Ngân hàng có cung cấp cho Tòa án giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1045137 ngày 07/3/2018, hạn mức cấp thẻ tín dụng là 10.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận trong hạn 2,5%/tháng. Ngày 14/7/2022 Ngân hàng thông báo cho bà C biết việc thu hồi nợ thẻ tín dụng và có biên bản làm việc với bà C để yêu cầu bà C thanh toán số tiền nợ nhưng bà C không ký tên biên bản và tại bản tóm tắt sao kê ngày 03/02/2023, nội dung thể hiện bà C còn nợ Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 03/02/2023 là 13.349.086 đồng. Trong đó, nợ gốc 11.895.470 đồng, lãi trong hạn 969.077 đồng và lãi quá hạn 484.539 đồng. Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu bà C phải trả tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 15.467.654 đồng. Trong đó, nợ gốc 11.895.470 đồng và lãi quá hạn 3.572.184 đồng, việc Ngân hàng thay đổi, bổ sung yêu cầu là không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ Luật tố tụng dân sự. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy, có cơ sở chấp nhận theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T, buộc bà Đặng Thị C phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 15.467.654 đồng. Trong đó, nợ gốc 11.895.470 đồng và lãi quá hạn 3.572.184 đồng. Đồng thời, bà C có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh tính từ ngày 20/6/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng số 1045137 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Về án phí: Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5% đối với tổng số tiền 15.467.654 đồng phải trả cho Ngân hàng là 773.000 đồng (làm tròn).
Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T không phải chịu án phí, số tiền đã dự nộp được nhận lại.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T.
[1] Về nội dung:
Buộc bà Đặng Thị C phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T tổng số tiền vốn và lãi tính đến ngày 19/6/2023 là 15.467.654 đồng (Mười lăm triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm năm mươi bốn đồng). Trong đó, số tiền gốc 11.895.470 đồng và lãi quá hạn 3.572.184 đồng.
Kể từ ngày 20 tháng 6 năm 2023 bà Đặng Thị C chậm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T số tiền trên thì bà C còn phải chịu thêm khoản lãi theo mức lãi suất quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1045137 ngày 07/3/2018 đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[2] Về án phí:
Bà Đặng Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 773.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T 334.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008786 ngày 15/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Đặng Thị C vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục THADS cùng cấp; - Phòng KTNV&THA; - Lưu: Hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sol Nguyễn Văn Mầm | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Hiền Trần Thanh Hiền |