- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2022/HS-ST Ngày 26/8/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quốc Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại và bà Nguyễn Thị Kim Luyến.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2022/TLST- HS ngày 04 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2022/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên Nguyễn Thị T, sinh năm 1999 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường T, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; hiện trú tại: Thôn B, xã T, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị B; chồng Nguyễn Văn M; con: Hiện bị cáo đang mang thai; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương. (có mặt).
Người bị hại: Ông Đinh Xuân H SN 1936 (đã chết)
Địa chỉ: Phường P, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Đại diện hợp pháp người bị hại:
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1944
- Chị Đinh Thị Hồng T1, sinh năm 1973
- Chị Đinh Thị Bích L, sinh năm 1975
- Anh Đinh Xuân H, sinh năm 1983
Cùng trú tại: Phường P, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bà C, chị T, chị Lợi ủy quyền cho anh Đinh Xuân H (có mặt)
* Người làm chứng:
- - Bà Ngô Thị Q, sinh năm 1953 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1958 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 29/12/2021, Nguyễn Thị T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 88H1– 206.50 đi từ nhà ở Phường T, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đến khu công nghiệp Q, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội để làm việc. Khi đi đến đường H thuộc Phường P, thành phố Phúc Yên, (đoạn đường ở phía trước khu nhà Trung tâm văn hóa thể thao của Công ty H), lúc này trời tối, đường H không bật đèn chiếu sáng, T điều khiển xe mô tô có bật đèn chiếu sáng (đèn có tác dụng và có ánh sáng), đi tránh hàng xe công ten nơ đỗ ở mép đường bên phải theo chiều di chuyển của T, với tốc độ khoảng 30 km/h, cách mép đường bên phải theo chiều đi của T khoảng 05m.
Do trời tối, tầm nhìn bị hạn chế, chỉ có ánh sáng của đèn chiếu sáng của xe mô tô và bị lóa mắt từ ánh đèn của xe ô tô đi ngược chiều, nên chỉ đến khi cách khoảng 7m thì T mới nhìn thấy ông Đinh Xuân H SN 1936, trú tại Phường P, thành phố Phúc Yên, đang đi bộ ở lòng đường, phía trước cùng chiều với hướng di chuyển của T. Do không làm chủ tốc độ, không đảm bảo khoảng cách an toàn, không dừng xe lại để đảm bảo an toàn nên tay lái bên phải của xe mô tô do T điều khiển đã va vào người ông H làm ông ngã xuống đường, xe mô tô cũng bị đổ ra đường, gây tai nạn giao thông.
Hậu quả: Ông Đinh Xuân H bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa khu vực P sau đó được chuyển đến Bệnh viện Hữu nghị V để điều trị nhưng do thương tích nặng nên ngày 01/01/2022 ông H tử vong.
Sau khi sự việc xảy ra, căn cứ lời khai của Nguyễn Thị T và những người làm chứng, Cơ quan điều tra đã tổ chức dựng lại hiện trường, khám tử thi và phương tiện theo quy định của pháp luật, kết quả:
Khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn giao thông có lòng đường rộng 14,2m được trải nhựa bằng phẳng; là đường hai chiều, hai bên vỉa hè rộng 8m, vị trí xảy ra tai nạn là bên phải đường hướng từ đường N đi huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Phía bên phải đường H có lối mở vào cổng số 11 của Công ty Hrộng 32,6m, phía bên trái có lối mở vào cổng số 12- Công ty H rộng 36,3m.
Lấy mép đường bên phải trên đường H theo hướng đường N đi huyệnMê Linh, thành phố Hà Nội là mép chuẩn; lấy cột điện chiếu sáng thứ hai nằm trên vỉa hè bên trái tính từ cổng số 11 Công ty H hướng đi đường N làm mốc chuẩn.
Vị trí ông Đinh Xuân H (1) nằm dưới mặt đường sau khi xảy ra tai nạn, đầu hướng về phía mép đường chuẩn, chân hướng ra lòng đường, từ tâm vị trí ông H nằm đến mép đường chuẩn là 2,5m, cách điểm mốc là 5,6m. Từ tâm (1) đến trục trước bánh xe mô tô BKS 88H1-206.50 là 0.9m.
Xe mô tô (2) BKS 88H1-206.50 đổ nghiêng bên trái, đầu xe hướng đi huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, đuôi xe hướng đi đường N, từ tâm trục bánh xe phía trước cách mép chuẩn là 3,7m, từ tâm trục bánh sau cách mép chuẩn là 3,75, tâm trục bánh trước cách điểm mốc là 6,1m, cách biển báo nguy hiểm (biển cảnh báo sắp đến đoạn đường giao nhau cùng cấp) trên vỉa hè bên phải hướng đi huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội là 35,9m. Đo vuông góc từ tâm trục bánh xe phía trước cách mép bên phải cổng số 11- Công ty HonDa hướng từ ngoài đường H nhìn vào là 46m, cách mép bên trái cổng số 12 công ty HonDa theo hướng từ ngoài đường H nhìn vào là 20,3m
Khám phương tiện: Xe mô tô nhãn hiện HONDA LEAD màu vàng BKS 88H1-206.50 được dựng thẳng đứng trên nền sân phẳng, cứng. Quy ước khám nghiệm trước, sau, phải, trái theo chiều tịnh tiến của xe. Quá trình khám nghiệm phát hiện các dấu vết như sau:
Mặt ngoài ốp gương chiếu hậu bên trái có nhiều vết trượt xước nhựa ở cạnh ngoài không rõ chiều hướng KT 06x02cm, điểm gần nhất cách chân gương là 24cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 120cm. Đầu núm tay lái bên trái có vết trượt xước kim loại KT 1.5x0.5cm chiều hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách mặt đất là 100cm. Đầu tay phanh bên trái có nhiều vết trượt xước kim loại không rõ chiều hướng KT 01x01cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 97cm. Ốp nhựa đầu xe bên dưới đèn xi nhan bên trái bị bung, bật gờ hãm tạo khe hở chỗ lớn nhất 0,5cm, dài 12cm. Mặt ngoài khung kim loại bảo về cánh yếm và sườn xe bên trái có nhiều vết trượt xước kim loại bám dính nhiều đám chất màu trắng không rõ chiều hướng trên diện 21x45cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 54cm. Tại vị trí này khung kim loại bị đẩy ép sát vào cánh yếm bên trái. Mặt ngoài thanh kim loại tại vị trí cố định chân chống phụ với thân xe có nhiều vết trượt xước mài mòn kim loại KT 0.3x1.5cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 23cm. Mặt ngoài thanh kim loại cần gạt chân chống chính có nhiều vết trượt xước kim loại bám dính đám chất màu trắng KT 15x01cm, điểm gần nhất cách vị trí hàn nối với thanh chống bên trái là 10cm. Cánh yếm bên phải bị bung bật gờ hãm tại vị trí tiếp giáp với đèn xi nhan phía trước bên phải tạo khe hở chỗ lớn nhất là 0,2cm, dài 20cm.
Khám nghiệm tử thi và Kết quả giám định pháp y: Do gia đình ông Đinh Xuân H từ chối giám định pháp y thử thi, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định nguyên nhân tử vong của bị hại qua hồ sơ, bệnh án.
Tại bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 02 ngày 08/4/2022 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định và kết luận: “Chấn thương sọ não nặng: Máu tụ dưới màng cứng bán cầu hai bên, dập não trán trái. Tụ máu dưới màng cứng bán cầu não trái, vùng trán thái dương phải dọc liền đại não. Chảy máu dưới nhện trong các rãnh cuộn não vùng trán hai bên, thái dương đỉnh trái kèm phù não xung quanh. Đường lệch giữa phải, thoát vị thái dương trái. Vỡ xương đỉnh hai bên lan vào bên trái xương trán và bên phải xương chẩm. Sưng nề phần mềm dưới da đầu vùng đỉnh. Nguyên nhân tử vong do chấn thương sọ não nặng sau điều trị không hồi phục”.
Vật chứng thu giữ: Ngày 04/01/2022, Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe mô tô BKS 88H1- 206.50; 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 Đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus màu hồng của T. Ngày 26/5/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô, đăng ký xe và điện thoại di động cho Nguyễn Thị T. Hiện còn tạm giữ 01 giấy phép lái xe của Nguyễn Thị T.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 26/01/2022, gia đình ông Đinh Xuân H đã ủy quyền cho anh Đinh Xuân H SN 1983 là con trai của ông H là người đại diện gia đình bị hại tham gia tố tụng. Trong giai đoạn điều tra bị cáo Nguyễn Thị T đã thỏa thuận, tự nguyện bồi thường cho gia đình ông H 100.000.000đồng, đến nay gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác, đồng thời có đơn đề nghị xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 58/CT - VKSPY ngày 03 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố Nguyễn Thị T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Nguyễn Thị T. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b,n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Về bồi thường dân sự đã được các bên thỏa thuận không đề nghị giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, bản ảnh hiện trường, kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, bản kết luận giám định pháp y cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 4h30 phút ngày 29/12/2021, tại đường H thuộc địa phận Phường P, thành phố Phúc Yên, Nguyễn Thị T điều khiển xe mô BKS: 88H1-206.50, do không làm chủ tốc độ, không đảm bảo khoảng cách an toàn nên phần đầu tay lái bên phải của xe mô tô do T điều khiển đã va quệt vào người ông Đinh Xuân H SN 1936 ở Phường P, thành phố Phúc Yên đang đi bộ cùng chiều phía trước gây tai nạn giao thông, hậu quả làm ông Đinh Xuân H tử vong.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Thị T đã vi phạm quy định tại Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và vi phạm Điều 4, 5 Thông tư 31/2019/TT – BGTVT của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
+ Điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định:“1. Người lái xe,… phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường...”
+ Điều 4 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT, quy định:
“...3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải điều khiển xe chạy với tốc độ phù hợp điều kiện của …, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để đảm bảo an toàn giao thông.”
Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT, quy định:“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
1. ...có chướng ngại vật trên đường;
2. … tầm nhìn bị hạn chế;
5. Qua khu vực có trường học, bệnh viện, bến xe, công trình công cộng tập trung nhiều người; khu vực đông dân cư, nhà máy, công sở tập trung bên đường;
8. Tránh xe chạy ngược chiều…;”
Hành vi của Nguyễn Thị T là nguy hiểm cho xã hội đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Do vậy hành vi của Nguyễn Thị T cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự;
"1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 01 năm đến 05 năm:
a. Làm chết người…”
[ 3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, hậu quả làm ông Đinh Xuân H tử vong. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Xét nhân thân bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo đã tự nguyện bồi thường tiền viện phí, tổn thất về tinh thần tổng số tiền là: 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng). Nay đại diện gia đình người bị hại không yêu cầu phải bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tại phiên tòa đại diện hợp pháp người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo ngoài xã hội, hiện bị cáo đang mang thai tháng thứ 8. Hơn nữa trong vụ án người bị hại cũng có lỗi, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 luật giao thông đường bộ đó là: “ Người đi bộ phải đi trên hè phố, lề đường; trường hợp đường không có hè phố, lề đường thì người đi bộ phải đi sát mép đường” đoạn đường H có vỉa hè rộng 08m người đi bộ không đi trên vỉa hè mà lại đi dưới lòng đường nên mới dẫn đến tai nạn đáng tiếc. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự Hội đồng xét xử thấy trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đáng được khoan hồng và có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục cũng đủ để răn đe, giáo dục cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 260 BLHS, bị cáo có thể bị phạt bổ sung cấm hành nghề từ 01 đến 05 năm. Tuy nhiên, bị cáo không hành nghề lái xe. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã đến thăm hỏi, bồi thường tiền viện phí, tổn thất về tinh thần tổng số tiền là: 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng). Đại diện cho gia đình người bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 88H1- 206.50; 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 Đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone7plus màu hồng của T.Ngày 26/5/2022, đã trả lại xe mô tô, đăng ký xe và điện thoại di động cho Nguyễn Thị T. Nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị T cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho Nguyễn Thị T 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Thị T vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 05 tháng 8 năm 2022.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ; buộ c bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND thành phố Phúc Yên; - Công an thành phố Phúc Yên; - Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên; - Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp Hà Nội - UBND xã T - Bị cáo; Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Quốc Bình |