vanban.org

Bản án 58/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo: Trịnh Minh S, sinh năm 1955; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 369/2 đường Lê Hồng Phong, Phường 2, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Tầng trệt nhà số 172A đường Tuệ Tĩnh, Phường 12, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trịnh Minh S bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 của BLHS - phạm t…"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Trịnh Minh S, sinh năm 1955; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 369/2 đường Lê Hồng Phong, Phường 2, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Tầng trệt nhà số 172A đường Tuệ Tĩnh, Phường 12, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2022/HS-ST
Ngày 30/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Huỳnh Đệ;

Bà Hoàng Mỹ Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Vi Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 8 năm 2022 tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Trịnh Minh S; sinh ngày 01/01/1955 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: đường L, Phường 2, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: đường T, Phường 12, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh T (chết) và bà Lưu Trịnh Th (chết); bị cáo khai có vợ nhưng không đăng ký kết hôn; có 03 người con không đứng tên cha trên giấy khai sinh (không rõ họ tên vợ, con); tiền án: Ngày 15/01/2016, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 35/2016/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/02/2017. Bị cáo S chưa đóng tiền phạt và tiền án phí hình sự sơ thẩm; tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/3/2022; có mặt.

Nhân thân:

- Ngày 07/12/1989, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo bản án số 07/1989/HSST và Bản án số 195/HSPT, ngày 19/4/1990 của Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ngày 26/3/1997, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 10 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo bản án số 19/1997/HSST.

- Ngày 20/12/2010 Ủy ban nhân dân Quận 5 đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Đến ngày 09/12/2012 chấp hành xong.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 ngày 18/3/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 11 phát hiện Trịnh Minh S đang điều khiển xe môtô biển số 59C1-128.12 đến trước số 1120 đường 3 tháng 2, Phường 12, Quận 11 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay trái của S đang cầm 01 gói giấy bạc, trong gói giấy bạc chứa tinh thể không màu là ma túy nên đưa S cùng tang vật về trụ sở Công an Phường 12, Quận 11 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của S tại tầng trệt nhà ngăn phòng cho thuê số 172A đường Tuệ Tĩnh, Phường 12, Quận 11, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 thu giữ thêm 01 gói nylon chứa ma túy dạng tinh thể không màu cùng một số dụng cụ để sử dụng, phân chia ma túy.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã tiến hành trưng cầu giám định 02 gói nylon chứa tinh thể không màu thu giữ của Trịnh Minh S. Tại Bản kết luận giám định số 1742/KL-KTHS ngày 25/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định:

- ói 1: Tinh thể không màu được ký mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3174g, loại Methamphetamine.

- ói 2: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5234g, loại Methamphetamine.

Tổng số ma túy thu giữ của Trịnh Minh S là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,8408g, loại Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra bị cáo S khai nhận: Số ma tuý công an thu giữ tại nơi ở và trong người của S đều là ma tuý của S. Trong đó, 01 gói S định bán cho một nam thanh niên (S không rõ lai lịch người này) bằng cách trao đổi ma túy để lấy 01 chiếc điện thoại cũ, trị giá 200.000 đồng. Khi S đi đến trước số 1120 đường 3 tháng 2, Phường 12, Quận 11 thì bị công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang như nêu trên. Khám xét tại nơi ở của S phát hiện 01 gói nylon bên trong chứa ma túy, S cũng khai số ma túy này dùng để bán. Nguồn gốc ma túy S mua ở đường Bùi Viện, Quận 1, S mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời.

S khai đã bán ma túy 02 lần. Lần thứ nhất bán cho người bạn tại chợ Nhật Tảo, lần thứ 2 chưa giao dịch được thì bị công an bắt quả tang. Cả hai lần bán, S đều không biết lai lịch, địa chỉ của người mua, chỉ quen nhau ở chợ, mỗi lần giao dịch thông qua điện thoại. Trong quá trình điều tra, không xác định được đối tượng mua ma túy của S, chỉ có lời khai của S, không có chứng cứ khác chứng minh S bán ma túy 2 lần trở lên, nên không đủ cơ sở kết luận S phạm tội nhiều lần.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

- 02 gói niêm phong ghi vụ số 323/2022 bên ngoài có chữ ký giám định viên và điều tra viên sau giám định.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen. S dùng để liên lạc mua bán ma túy.

- 01 chai nhựa trên nắp có gắn ống hút và ống thủy tinh đầu phễu tròn, 01 kẹp gắp, 01 quẹt gas. S dùng để sử dụng và phân chia ma túy.

- 01 xe môtô hiệu Yamaha Mio màu đen, biển số 59C1-128.12. Tiến hành xác minh xe môtô biển số 59C1-128.12 do Nguyễn Thị Ngọc Xuân đứng tên chủ sở hữu, Xuân xác định đã cho Hồ Trung Hậu. Hồ Trung Hậu khai bán cho một người đàn ông không quen biết. S khai chiếc xe này S mua từ một người không quen biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã có văn bản đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe môtô trên.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen. Không có sim, S không dùng đến. Đây là tài sản cá nhân của S.

- Tiền Việt Nam: 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền cá nhân của S.

Bản cáo trạng số 56/CT-VKSQ11 ngày 25 tháng 7 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Trịnh Minh S tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo S có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng với nội dung bản Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị: Mức hình phạt đối với bị cáo S từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng như sau:

- Tịch thu tiêu huỷ: 02 gói niêm phong ghi vụ số 323/2022 bên ngoài có chữ ký giám định viên và điều tra viên, chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 chai nhựa trên nắp có gắn ống hút và ống thủy tinh đầu phễu tròn, 01 kẹp gắp, 01 quẹt gas. S dùng để sử dụng và phân chia ma túy.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, bị cáo S dùng để liên lạc mua bán ma túy.

- Thông báo trong thời hạn luật định đối với 01 xe môtô hiệu Yamaha Mio màu đen, biển số 59C1-128.12, quá thời hạn trên mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Trả lại cho bị cáo S: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, không có sim và số tiền 750.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:

Vào lúc 12 giờ 00 phút ngày 18/3/2022, tại trước số 1120 đường 3 tháng 2, Phường 12, Quận 11 và tại tầng trệt nhà ngăn phòng cho thuê số 172A đường Tuệ Tĩnh, Phường 12, Quận 11. Trịnh Minh S đã có hành vi cất giữ trái phép 0,8408g ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để bán lại cho các đối tượng nghiện nhằm thu lợi bất chính và gói ma túy thu giữ tại nơi ở bị cáo mục đích cũng để bán khi có người hỏi mua thì bị cơ quan Công an Quận 11 phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn trong xã hội. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và hơn ai hết, chính bị cáo cũng là người nghiện ma túy nên hoàn toàn ý thức được hậu quả gây ra cho xã hội khi thực hiện hành vi nhưng vẫn cố ý thực hiện nên có lỗi cố ý trực tiếp, vì vậy bị cáo phải chịu một hình phạt tương xứng.

Đối với đối tượng bán ma túy cho S và đối tượng mua ma túy của S, do S không biết nhân thân lai lịch của các đối tượng này. Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 15/01/2016, bị cáo S bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 35/2016/HSST. Bị cáo S chưa đóng tiền phạt và tiền án phí hình sự sơ thẩm nên chưa được xóa án. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần bắt bị cáo phải chịu phạt tiền là hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

+ 02 gói niêm phong ghi vụ số 323/2022 bên ngoài có chữ ký giám định viên và điều tra viên chứa ma túy còn lại sau giám định nên tịch thu tiêu hủy;

+ 01 chai nhựa trên nắp có gắn ống hút và ống thủy tinh đầu phễu tròn, 01 kẹp gắp, 01 quẹt gas bị cáo S dùng để sử dụng và phân chia ma túy nên tịch thu tiêu hủy;

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước;

+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, không có sim và số tiền 750.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo;

+ 01 xe môtô hiệu Yamaha Mio màu đen, biển số 59C1-128.12. Tiến hành xác minh xe môtô biển số 59C1-128.12 do bà Nguyễn Thị Ngọc Xuân đứng tên chủ sở hữu, bà Xuân xác định đã cho ông Hồ Trung Hậu chiếc xe trên. Ông Hồ Trung Hậu khai bán xe cho một người đàn ông không quen biết. Bị cáo S khai chiếc xe này S mua từ một người không quen biết. Cơ quan điều tra Công an Quận 11 đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ làm việc. Do đó, cần thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận, quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 50; khoản 1, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Trịnh Minh S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trịnh Minh S 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/3/2022.

Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Tịch thu và tiêu hủy: 02 gói ma túy vụ số 323//2022 bên ngoài có chữ ký của giám định viên và điều tra viên sau giám định.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 81/LNK-ĐCSMT ngày 22/6/2022).

- Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng;

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 chai nhựa trên nắp có gắn ống hút và ống thủy tinh đầu phễu tròn, 01 kẹp gắp, 01 quẹt gas;

- Trả lại cho bị cáo Trịnh Minh S: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng);

- Thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với 01 xe môtô hiệu YAMAHA MIO biển số 59C1-128.12; quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 21/LNK-ĐCSMT ngày 22/3/2022).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- TAND - VKSND TPHCM;

(Đã ký)

- Sở Tư pháp TPHCM;

- PC 27 - CA TPHCM;

- VKSND Q.11;

- Công an Q.11;

- Chi cục THADS Q.11;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

–––––––––––––––––––––––––––––––

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 09 giờ 00 phút, ngày 30 tháng 8 năm 2022.

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Huỳnh Đệ;

Bà Hoàng Mỹ Oanh.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2022, đối với:

Bị cáo Trịnh Minh S; sinh năm: 1955, tại Thành phố Hồ Chí Minh;

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào Điều 50; khoản 1, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

2. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Minh S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

3. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trịnh Minh S 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/3/2022.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

4. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Tịch thu và tiêu hủy: 02 gói ma túy vụ số 323/2022 bên ngoài có chữ ký của giám định viên và điều tra viên sau giám định.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 81/LNK-ĐCSMT ngày 22/6/2022).

- Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng;

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 chai nhựa trên nắp có gắn ống hút và ống thủy tinh đầu phễu tròn, 01 kẹp gắp, 01 quẹt gas;

- Trả lại cho bị cáo Trịnh Minh S: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng);

- Thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với 01 xe môtô hiệu YAMAHA MIO biển số 59C1-128.12; quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 21/LNK-ĐCSMT ngày 22/3/2022).

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

5. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

6. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 10 phút, ngày 30 tháng 8 năm 2022.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

–––––––––––––––––––––––––––––––

Quận 11, ngày 30 tháng 8 năm 2022

Số:

/2022/HSST-QĐT

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Hoàng Mỹ Oanh;

- Ông Lâm Huỳnh Đệ.

Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1

Tạm giam bị cáo: Trịnh Minh S, sinh năm 1955; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 369/2 đường Lê Hồng Phong, Phường 2, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Tầng trệt nhà số 172A đường Tuệ Tĩnh, Phường 12, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án.

Điều 2

Nhà tạm giữ Công an Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ