- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Đ - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:58/2022/HS-ST Ngày 14/6/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông La Văn Viên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Thế Hạp và ông Hoàng Văn Tiến.
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Dũng- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 55/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2022 đối với:
Bị cáo: Hoàng Văn Đ, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 05 tháng 8 năm 1991 tại Trùng Khánh, Cao Bằng; HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm BH, xã CT, huyện TK, tỉnh CB; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ đảng, chính quyền: Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số 60 ngày 05/5/2022 của Ủy ban Kiểm tra huyện ủy Trùng Khánh; Con ông Hoàng Văn T và bà Mã Thị Ph; Vợ: Hoàng Thị Nh, sinh năm 1991; Con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 11/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Có mặt.
Những ngƣời làm chứng:
1. Nông Văn H1, sinh năm 1995; địa chỉ: xóm PĐ, xã CT, huyện TK, tỉnh CB. Vắng mặt.
2. Nông Văn H2, sinh năm 1991; địa chỉ: xóm PĐ, xã CT, huyện TK, tỉnh CB. Vắng mặt.
3. Lục Xuân Tr, sinh năm 1984; địa chỉ: xóm PĐ, xã CT, huyện TK, tỉnh CB. Vắng mặt.
4. Nông Văn S, sinh năm 1995; địa chỉ: xóm PĐ, xã CT, huyện TK, tỉnh CB. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luân tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 20 phút ngày 11/01/2022, tổ công tác Công an thị trấn Trùng Khánh làm nhiệm vụ tại đoạn đường thuộc Tổ dân phố 1, thị trấn TK, huyện TK, tỉnh CB đoạn giáp gianh với xóm TK, xã ĐH, huyện TK phát hiện bắt quả tang Hoàng Văn Đ, sinh năm 1991, trú tại xóm BH, xã CT, huyện TK tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi áo khoác bên phải Đ đang mặc 11 gói nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme; 01 điện thoại dạng bàn phím, điện thoại dáng gập nhãn hiệu Masstel. Đế khai số chất bột màu trắng là ma túy, loại Heroine.
Hồi 18 giờ 20 ngày ngày 11/01/2022, Cơ quan điều tra tiến hành cân số chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Văn Đ có khối lượng 0,55g (Không phẩy năm năm gam) và trích lấy mẫu gửi trưng cầu giám định. Tại kết luận giám định số 64/GĐMT ngày 02/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine”.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn Đ khai bản thân nghiện ma túy. Đế bắt đầu bán ma túy từ tháng 12/2021. Nguồn gốc số ma túy để bán và sử dụng là Đế thường xuyên mua với một người đàn ông tên là T ở xóm SK, xã ĐH mỗi lần mua 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) hình thức giao dịch là các đối tượng nghiện đến gặp trực tiếp, đưa tiền thì Đ đưa ma túy hoặc gọi điện thoại trước Đ sẽ hẹn địa điểm giao dịch. Đ được bán ma túy cho nhiều người nhưng chỉ nhớ những người có tên, địa chỉ sau:
Bán cho Nông Văn H1, sinh năm 1995, trú tại xóm PĐ, xã CT, huyện TK 02 lần mỗi lần 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
Bán cho Nông Văn H2, sinh năm 1991, trú tại xóm PĐ, xã CT, huyện TK 02 lần mỗi lần 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
Bán cho Lục Xuân Tr, sinh năm 1984, trú tại xóm PĐ, xã CT, huyện TK 01 lần 100.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bán cho Nông Văn S, sinh năm 1995, trú tại xóm PĐ, xã CT, huyện TK 01 lần 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Tổng cộng Hoàng Văn Đ bán ma túy 06 lần cho 04 người, thu được số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra, Hoàng Văn Đ thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các đối tượng mua ma túy với bị cáo về số lần, số tiền, thời gian, địa điểm và hình thức giao dịch mua bán ma túy.
Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKSTK, ngày 23 tháng 5 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn Đ khai nhận: bản thân nghiện ma túy bắt đầu bán ma túy từ tháng 12/2021. Nguồn gốc số ma túy để bán và sử dụng là Đ thường xuyên mua với một người đàn ông tên là T ở xóm SK, xã ĐH mỗi lần mua 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) và Đ được bán ma túy cho các đối tượng nghiện đến gặp trực tiếp, đưa tiền thì Đ đưa ma túy hoặc gọi điện thoại trước Đ sẽ hẹn địa điểm giao dịch. Đ được bán ma túy cho những người sau:
Bán cho Nông Văn H1, Nông Văn H2 mỗi người 02 lần mỗi lần 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), Lục Xuân Tr 01 lần 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), Nông Văn S 01 lần 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Tổng cộng Hoàng Văn Đ bán ma túy 06 lần cho 04 người, thu được số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng).
Bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt nhẹ nhất.
Tại phần kết luận và tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Về trách nhiệm hình sự: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ với mức án từ 07 đến 08 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi “Vật chứng vụ Hoàng Văn Đ - Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 11/01/2022, tại tổ dân phố 1 thị trấn TK, huyện TK, tỉnh CB”.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc điện thoại di động dáng gập nhãn hiệu Masstel thu giữ đối với Hoàng Văn Đ ngày 11/01/2022 đã hỏng không có giá trị sử dụng.
- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme thu giữ đối với Hoàng Văn Đ ngày 11/01/2022.
Truy thu số tiền 700.000 đồng đối với bị cáo Hoàng Văn Đ do bán ma túy mà có sung công quỹ nhà nước.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo Hoàng Văn Đ không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, lời khai nhận của bị cáo và lời khai của những người làm chứng phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, xác định:
Hồi 15 giờ 20 phút ngày 11/01/2022, tổ công tác Công an thị trấn Trùng Khánh làm nhiệm vụ tại đoạn đường thuộc Tổ dân phố 1, thị trấn TK, huyện TK, tỉnh CB bắt quả tang Hoàng Văn Đ tàng trữ 0,55g ma túy, loại Heroine. Mục đích mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Bị cáo đã bán ma túy cho 04 người thu được số tiền 700.000 đồng. Ngoài ra còn bán cho một số người khác nhưng không biết tên và địa chỉ. Bị cáo giao dịch mua bán có hứa hẹn hoặc điện thoại trước khi bán ma túy, bị cáo đã dùng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme để liên lạc còn chiếc điện thoại di động dáng gập nhãn hiệu Masstel đã hỏng không sử dụng được.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn Đ thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy là sai trái pháp luật, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với lời khai của các nhân chứng cũng như vật chứng của vụ án đã thu được của bị cáo có khối lượng 0,55g (không phẩy năm năm gam). Tại bản kết luận giám định số 64/GĐMT ngày 02/02/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận:"Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine”
Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, hành vi mua bán trái phép chất ma túy do Hoàng Văn Đ thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Mặc dù bị cáo nhận thức được ma túy được nhà nước ta nghiêm cấm mua bán, ma túy là chất gây nghiện ảnh hưởng tới sức khỏe con người nhưng do bản thân mắc nghiện, hơn nữa vì mục đích để có ma túy sử dụng đã bất chấp các qui định của pháp luật. Do đó, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Do vậy, bản Cáo trạng truy tố bị cáo Hoàng Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Hoàng Văn Đ đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[ 4] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Trước khi phạm tội bị cáo Hoàng Văn Đ không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế khó khăn. Vì vậy, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tình tiết tăng nặng không có. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có ý thức tự giáo dục, cải tạo bản thân trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Về nguồn gốc số ma túy để bán và sử dụng là Đế thường xuyên mua với một người đàn ông tên là T ở xóm SK, xã ĐH mỗi lần mua 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), do không xác minh được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh không đủ căn cứ để điều tra mở rộng vụ án.
Đối với các đối tượng nghiện ma túy như Nông Văn H1, Nông Văn H2, Lục Xuân Tr và Nông Văn S đều khai nhận được mua ma túy với Hoàng Văn Đ về để sử dụng, theo qui định của pháp luật thì không truy cứu trách nhiệm hình sự.
. Tại phiên tòa, mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
Về vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi “Vật chứng vụ Hoàng Văn Đ - Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 11/01/2022, tại tổ dân phố 1 thị trấn TK, huyện TK, tỉnh CB”.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc điện thoại di động dáng gập nhãn hiệu Masstel thu giữ đối với Hoàng Văn Đ ngày 11/01/2022 đã hỏng không có giá trị sử dụng.
- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme thu giữ đối với Hoàng Văn Đ ngày 11/01/2022.
Truy thu số tiền 700.000 đồng là khoản tiền thu lợi bất chính đối với bị cáo Hoàng Văn Đ do bán ma túy mà có sung công quỹ nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nguồn thu nhập ổn định, bản thân nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 11/01/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi “Vật chứng vụ Hoàng Văn Đ - Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 11/01/2022, tại tổ dân phố 1 thị trấn TK, huyện TK, tỉnh CB”.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc điện thoại di động dáng gập nhãn hiệu Masstel thu giữ đối với Hoàng Văn Đ ngày 11/01/2022 đã hỏng không có giá trị sử dụng.
- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme thu giữ đối với Hoàng Văn Đ ngày 11/01/2022.
Truy thu số tiền 700.000 đồng đối với bị cáo Hoàng Văn Đ do bán ma túy mà có sung công quỹ nhà nước.
Xác nhận số vật chứng trên đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, theo biên bản giao vật chứng ngày 24/5/2021.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Phòng kiểm tra nghiệp vụ TAND tỉnh Cao Bằng; - VKSND huyện Trùng Khánh; - CA huyện Trùng Khánh; - Sở tư pháp tỉnh Cao Bằng; - THADS Trùng Khánh; UBND xã Cao Thăng; Bị cáo; - Lưu THA hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án, Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA La Văn Viên |