- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lục Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lục Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2022/HS-ST Ngày 09 tháng 12 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Việt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Ngọc và ông Nguyễn Thành Đô
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2022, tại Ủy ban nhân dân thị trấn Hợp Châu, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2022/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Lục Văn L, sinh ngày 24/2/1994; trú tại: Thôn Đ, xã ĐT, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; văn hóa: 4/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc Tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn Ng và bà Trần Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 13/9/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tam Đảo. Có mặt
* Người bào chữa cho bị cáo Lục Văn L: Ông Lê Văn Duy - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21h20’ ngày 13/9/2022 tại khu vực thôn Tây Sơn, xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện Tam Đảo kiểm tra, bắt quả tang Lục Văn L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: Thu tại lòng bàn tay phải của L 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất cục bột màu trắng - L khai là ma túy mua để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang, vật chứng được niêm phong ký hiệu M1.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo ra Quyết định trưng cầu giám định số 244 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định đối với mẫu ký hiệu M1.
Tại bản Kết luận giám định số 2792/KLGĐ ngày 17/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: "Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2177g (Không phảy hai một bảy bảy gam, không kể bao bì, loại Heroine”
Hoàn trả trực tiếp cho cơ quan trưng cầu M1 = 0,1514g mẫu và toàn bộ bao gói.
Về nguồn gốc gói ma túy, Lục Văn L khai nhận: Khoảng 21h00’ ngày 13/9/2022, L đang ở nhà tại thôn Đạo Trù Hạ, xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo thì nảy sinh nhu cầu sử dụng ma túy nên L một mình đi bộ ra khu vực Trường THPT Tam Đảo 2 thuộc thôn Tây Sơn, xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo. Tại đây, L gặp và mua được của một người đàn ông khoảng 30 tuổi (L không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) 01 gói ma túy vớ i giá 200.000đ. Sau đó L cầm gói ma túy ở lòng bàn tay phải rồi đi về tìm nơi sử dụng. Khi đi đến đoạn đường TL302 thuộc thôn Tây Sơn, xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo thì bị Công an bắt quả tang.
Do không xác định được tên, tuổi và địa chỉ của người đàn ông đã bán ma túy cho Lợi nên Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo không có căn cứ để tiến hành xác minh xử lý.
Tại Cáo trạng số 61/CT-VKSTĐ ngày 22/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo đã truy tố Lục văn L về tội “Tàng trữ phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà đã phân tích hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lục Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lục Văn L từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại sau giám định là M1 = 0,1514g mẫu cùng toàn bộ bao gói;
Tại phiên tòa bị cáo Lục Văn L đã thành khẩn khai nhận và rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, khi nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo đã phân tích hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, hoàn cảnh gia đình, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, với các chứng cứ khác đã được thu thập và phù hợp với Cáo trạng đã được Đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa. Do vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lục Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt của bị cáo được qui định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam;”.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý. Ma tuý là một tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung;
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do vậy cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại sau giám định là M1 = 0,1514g mẫu cùng toàn bộ bao gói;
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lục Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lục Văn L 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 13/9/2022;
3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại sau giám định là M1 = 0,1514 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói;
(có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/12/2022)
4.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án án số 326/2016/PL-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Tam Đảo; - Công an huyện Tam Đảo; - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc; - Chi cục THADS huyện Tam Đảo; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Quốc Việt |