vanban.org

Bản án 58/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 12/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2022; được khấu trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 09/02/2022 đến ngày 09/7/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2022/HS-ST
Ngày 12 – 12 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Mua

2. Ông Nguyễn Hoàng Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Bùi Nguyễn Thiên P, sinh năm 1986 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Số C, Nguyễn Văn S, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị Vĩnh H.

Tiền án: 02 tiền án. Tại Bản án số 143/2010/HSST ngày 20/7/2010 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 thàng tù về tội Cướp giật tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/7/2013. Tại Bản án số 227/2016/HSST ngày 22/8/2016 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/5/2018, chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Tiền sự: 01 lần. Ngày 19/12/2018 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, chấp hành xong vào ngày 04/8/2020.

Nhân thân: Ngày 31/8/2004 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2005.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/02/2022 đến ngày 09/7/2022 hủy bỏ biện pháp tạm giam; đến ngày 06/9/2022 bị cáo bị bắt tạm giam đến nay – có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lê Thanh T1, sinh năm 1987 (có mặt)

Nơi cư trú: khóm T, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

- Người làm chứng: Bà Phan Thị Minh T2, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 09/02/2022, qua công tác trinh sát, lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện T kết hợp cùng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh V và Công an xã S phát hiện Lê Thanh T1 đang đi bộ và Bùi Nguyễn Thiên P đang ngồi trên xe mô tô biển số kiểm soát 64H7-8108 và P dùng chân đẩy xe mô tô di chuyển vào nhà trọ K thuộc ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long có biểu hiện nghi vấn. Khi vào nhà trọ, T1 đi vào bên trong đến phòng trọ số A2, còn P đến ngồi tại ghế đá đặt phía trước cửa bên phải của nhà trọ Khải Hoàn M. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra đối với T1 và P thì T1 bỏ chạy làm rơi 01 bịch nylon nhiều màu, bịch bị rách có dòng chữ HELLO KITTY nên lực lượng Công an khống chế bắt giữ Tèo, kiểm tra bên trong bịch nylon nhiều màu, bịch bị rách có dòng chữ HELLO KITTY phát hiện có 05 bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy (niêm phong đánh số 1) và 13 bịch nylon nhiều màu, được hàn kín, bên trong đều có chứa chất rắn màu trắng nghi là ma túy (niêm phong đánh số 2); 01 điện thoại di động hiệu Nokia của T1 (niêm phong đánh số 3). Kiểm tra đối với P phát hiện tại nền xi măng cạnh chân ghế đá chỗ P ngồi có 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy (niêm phong đánh số 4); 02 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu vàng đồng (niêm phong đánh số 5) và số tiền 600.000 đồng. Lực lượng Công an kiểm tra và tạm giữ thêm: 01 xe mô tô biển số kiểm soát 64H7-8108, trên baga xe có 01 túi cao su màu bạc, bên trong túi cao su có 01 bình thuỷ tinh hình tháp, bên trong rỗng dùng để sử dụng ma túy và 20 bịch nylon nhiều màu được hàn kín, bên ngoài có dòng chữ HELLO KITTY.

Tại Kết luận giám định số 105/KLĐG-PC09 ngày 14/02/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận:

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 05 bịch nylon được niêm phong trong phong bì (đánh số 1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 30,9027 gam loại: Methamphetamine.

- Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 13 bịch nylon được niêm phong trong phong bì (đánh số 2) gửi giám định có khối lượng 33,4712 gam, không tìm thấy chất ma túy.

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong phong bì (đánh số 4) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,4276 gam loại: Methamphetamine.

Ngày 18/02/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự; khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Lê Thanh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự; khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Bùi Nguyễn Thiên P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, Lê Thanh T1 và Bùi Nguyễn Thiên P khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 09/02/2022, Lê Thanh T1 gặp người phụ nữ tên Ú (không rõ họ, chữ lót và địa chỉ cụ thể) là người quen biết trước đó với T1 tại xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, chị Ú nhờ T1 biết chỗ nào bán ma túy để Ú mua “cây 5, cây 10” thì T1 điện thoại cho Đ (không rõ họ, chữ lót và địa chỉ cụ thể) tại thành phố Hồ Chí Minh. T1 đưa điện thoại cho chị Ú và Đ nói chuyện mua bán ma túy với nhau. Chị Ú kêu T1 đi thành phố Hồ Chí Minh gặp Đ lấy ma túy về giao cho chị Ú. Địa điểm giao ma túy tại phòng trọ số A2 nhà trọ Khải Hoàn M thuộc ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Chị Ú hứa sẽ cho tiền và ma túy để T1 sử dụng. Đ thì hứa với T1 khi giao ma túy cho chị Ú xong sẽ cho T1 tiền. Tèo liền điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 64H7-8108 (xe mượn của anh Lê Thanh S1) đi thành phố Hồ Chí Minh để gặp Đ nhận ma túy về giao cho chị Ú. Khi T1 đến địa phận huyện C, tỉnh Tiền Giang thì T1 điện thoại cho Bùi Nguyễn Thiên P là bạn của T1 với nội dung là T1 đang đi thành phố Hồ Chí Minh và ghé P để chơi. Lúc này, P nói với T1 đang chuẩn bị xuống T1 để chơi cho nên Tèo không tiếp tục đi thành phố Hồ Chí Minh nữa mà nhờ P đến trạm xe buýt phía trước bến xe M gặp Đ để nhận gói quà (T1 không có nói là quà gì) về giao lại cho T1 tại khu đô thị S. P nhận lời T1 nên đến chỗ Đ nhận gói quà là bịch nylon nhiều màu, có dòng chữ HELLO KITTY được dán kín (P không có kiểm tra bên trong), sau đó đón xe về khu đô thị S để gặp T1. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày P về đến khu đô thị S, khi gặp nhau thì T1 lấy túi xách cao su của P để trước baga xe và chở P về hướng nhà trọ Khải Hoàn M. Khi đến trước cổng nhà trọ Khải Hoàn M, T1 hỏi P gói quà thì P chỉ bên trong túi xách cao su nên T1 mở túi xách lấy bịch nylon nhiều màu, có dòng chữ HELLO KITTY đi vào bên trong nhà trọ đến phòng A2, còn P thì ngồi trên xe dùng chân di chuyển xe vào bên trong và đi đến ngồi tại ghế đá trước cửa nhà trọ, do sợ bị phát hiện nên P lấy bịch ma túy trong túi quần mà P đã mua trước đó để xuống chân ghế đá chỗ P ngồi, sau đó cả 02 bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang.

Ngày 10/8/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định tách vụ án hình sự số 02/QĐ-CQCSĐT: Tách hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P và tang vật liên quan để điều tra xử lý riêng.

Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại gồm: 02 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu vàng đồng, 20 bịch nylon nhiều màu được hàn kín, bên ngoài có dòng chữ HELLO KITTY và 600.000 đồng cho Bùi Nguyễn Thiên P.

Còn lại:

- 01 phong bì niêm phong số 105/4, bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định là 2,3754 gam và vỏ bao gói.

- 01 bình thủy tinh hình tháp, bên trong rỗng dùng để sử dụng ma túy.

Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đang quản lý.

Tại Cáo trạng số: 46/CT-VKSTB ngày 27/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan.

Đối với người thanh niên bán ma tuý cho bị cáo P, bị cáo khai không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đủ cơ sở xác minh xử lý.

Đối với việc bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P có nhận gói quà dùm Lê Thanh T1 nhưng T1 không có nói gói quà có cất giấu ma túy, bản thân P cũng không có kiểm tra bên trong gói quà do đã được dán kín, ngoài ra không có chứng cứ nào khác chứng minh bị cáo P có vai trò đồng phạm với T1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định tách vụ án hình sự để xử lý bị cáo P về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý đối với khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo P là có căn cứ.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P mức án từ 06 (Sáu) năm đến 07 (B) năm tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy vật chứng:

- 01 phong bì niêm phong số 105/4, bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định là 2,3754 gam và vỏ bao gói.

- 01 bình thủy tinh hình tháp, bên trong rỗng dùng để sử dụng ma túy.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 09/02/2022, tại ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, Bùi Nguyễn Thiên P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý có khối lượng 2,4276 gam loại: Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định Điều 249 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật, thấy được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng chất ma túy nhưng bị cáo cố tình thực hiện, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích, trong đó Bản án số 227/2016/HS-ST của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm”; do đó lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự. Vì vậy hành vi của bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P có đủ cơ sở định tội theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình là hoàn toàn có căn cứ. Bị cáo P có nhân thân xấu, đã nhiều lần phạm tội nhưng vẫn không biết tu dưỡng để làm lại cuộc đời mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời giúp bị cáo cai nghiện, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị, vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ:

- 01 phong bì niêm phong số 105/4, bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định là 2,3754 gam và vỏ bao gói.

- 01 bình thủy tinh hình tháp, bên trong rỗng dùng để sử dụng ma túy.

Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng vụ án ngày 01/12/2022

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo P phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P 06 (Sáu) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2022; được khấu trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 09/02/2022 đến ngày 09/7/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- 01 (Một) phong bì niêm phong số 105/4, bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định là 2,3754 gam và vỏ bao gói.

- 01 (Một) bình thủy tinh hình tháp, bên trong rỗng dùng để sử dụng ma túy.

Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng vụ án ngày 01/12/2022

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Nguyễn Thiên P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ