vanban.org

Bản án 58/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An Tuyên án 18/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Ngọc S và Phan Mạnh S1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc S 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/12/2021. Xử phạt bị cáo Phan Mạnh S1 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 28/12/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Ngọc S và Phan Mạnh S bị truy tố, xét xử về tội danh "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Ngọc S và Phan Mạnh S1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2022/HS-ST
Ngày: 18/8/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Vy Hoàng Hà.

2/ Ông Hồ Tiến Dũng.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Vận – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2022/TLST – HS ngày 15 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Ngọc S, tên gọi khác: Không.

Sinh năm: 1988 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Trú tại: Khối H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Đức H và bà: Nguyễn Thị L; Vợ: Trương Thị Thanh L (đã ly hôn) và có 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2011 bị TAND huyện Q, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 70/2011/HSST ngày 29/11/2011; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2021 đến nay. (Có mặt)

2. Họ và tên: Phan Mạnh S1, tên gọi khác: Không.

Sinh năm: 1993 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Trú tại: Khối MH, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn lớp: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: (không xác định) và bà: Nguyễn Thị L; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2022 đến nay. (Có mặt)

- Những người làm chứng:

1. Chị Vi Thị H, sinh năm: 2001. Trú tại: Bản L, xã CT, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

1

2. Anh Trƣơng Văn B, sinh năm: 1996. Trú tại: Xóm T, xã CĐ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

3. Anh Sầm Phi H, sinh năm: 1999. Trú tại: Xóm N, xã CC, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)

4. Chị Trƣơng Thị Thanh L, sinh năm: 1992. Nơi ĐKHKTT tại: Khối H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Trú tại: Xóm C, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

5. Anh Mạc Thiên P, sinh năm: 1998. Trú tại: Bản B, xã CL, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)

6. Anh Hồ Ngọc H, sinh năm: 1994. Trú tại: Khối ML, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)

7. Chị Lê Dung T, sinh năm: 1993. Trú tại: Khối MB, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)

8. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1970. Trú tại: Khối MB, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 21/12/2021 tại khu vực đồi keo thuộc khối MS, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt giữ Sầm Phi H đang có hành vi sử dụng ma túy, thu giữ trên tay phải của H 01 chiếc bật lửa màu trắng, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 túi polyetylen màu trắng (ký hiệu M1) ở ngay trước vị trí H đang ngồi, thu giữ trên tay trái của H 01 chai nhựa màu trắng, loại 330ml, nhãn hàng STING, có nắp màu xanh, trên nắp chai có đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống nhựa màu trắng, một lỗ có gắn ống thủy tinh màu trắng, được uốn cong một đầu, một đầu ống thủy tinh gắn một ống nứa màu xanh bên trong chai (ký hiệu M2).

Quá trình điều tra Sầm Phi H và Trương Văn B khai khoảng 14 giờ ngày 20/12/2021 tại công viên thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Trương Văn B, sinh năm 1996, ở xóm T, xã CĐ, huyện Q gặp Vi Thị H, sinh năm 2001, trú tại bản L, xã CT, huyện Q là bạn nghiện chất ma túy quen biết nhau, qua nói chuyện B hỏi H có quen biết chỗ nào bán ma túy đá không thì được H giới thiệu cho Lê Ngọc S, H sử dụng số điện thoại 0846.873.068 gọi vào số điện thoại 0963.490.345 của Lê Ngọc S nói với S có người quen muốn mua ma túy đá để sử dụng và muốn xin số điện thoại của S qua H để trao đổi thì được S đồng ý. H cho số điện thoại của S và B lưu trong danh bạ điện thoại của mình là “Sáng TT” (nghĩa là S thị trấn), sau đó B đi về nhà và gọi điện thoại cho S làm quen và đặt vấn đề mua ma túy sử dụng. Theo lời khai của H bản thân H có sử dụng ma túy đá (Methamphetamine) trước đó khoảng tháng 4 năm 2021 thông qua bạn sử dụng ma túy giới thiệu H gặp Lê Ngọc S và một số người tại nhà nghỉ “Đ” ở thị trấn Q, huyện Q, sau khi gặp mới biết S cũng là người sử dụng ma túy đá, S nói với H “khi mô cần đồ (ma túy) thì

2

gọi cho anh” (ý nói lúc nào có nhu cầu mua ma túy đá thì liên lạc với S) sau đó hai bên trao đổi số điện thoại với nhau, H lưu số điện thoại 0963.490.345 của S trong danh bạ là “Tbd” (nghĩa là Thằng bán đá), còn S lưu số điện thoại 0846.873.068 của H trong danh bạ là “May Đu”, H khai nhận đã 04 lần mua ma túy đá với S trong khoảng thời gian tháng 11 năm 2021 với mục đích để sử dụng.

Đến khoảng 14 giờ ngày 21/12/2021 Trương Văn B đang ở nhà thì có Sầm Phi H đến chơi, H rủ B góp tiền mua ma túy đá để sử dụng thì B đồng ý. H góp số tiền 200.000 đồng, B góp số tiền 100.000 đồng, cả hai góp được 300.000 đồng. Khoảng 14 giờ hơn ngày 21/12/2021 B gọi điện thoại cho Lê Ngọc S để hỏi mua ma túy đá sử dụng thì được S đồng ý bán và hẹn gặp giao ma túy, giao tiền tại khu vực cầu tràn giáp ranh giữa thị trấn Q và xã CĐ, sau đó B điều khiển xe mô tô chở theo H đến địa điểm đã hẹn đợi S.

Tại thời điểm B gọi điện thoại cho S thì S đang ở nhà của mình tại khối H, thị trấn Q cùng với Phan Mạnh S1, sinh năm 1993, trú tại khối MH, thị trấn Q là bạn nghiện chất ma túy với S. Khi B gọi điện thoại đến S nghe máy, sau đó lấy ra 01 gói ma túy đá (Methamphetamine) được bọc bên ngoài bằng lớp giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh) bên trong là túi polyetylen trong suốt có chứa các hạt tinh thể màu trắng là ma túy đá. S đưa gói ma túy và điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1208 màu xanh đen, loại bàn phím, gắn sim 0963.490.345 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe AIRBLADE, màu đỏ đen, biển kiểm soát 37H1-129.79 đưa cho Phan Mạnh S1 và nói với S1 đi đến khu vực cầu tràn giáp ranh xã CĐ giao gói ma túy cho B và lấy số tiền 300.000 đồng về cho S thì được S1 đồng ý. Lúc đi S dặn S1 không để gói ma túy trong người, S1 cầm gói ma túy bên tay trái, điều khiển xe mô tô đi đến cầu tràn thì nhìn thấy B và H đang đứng đợi, lúc gặp nhau S1 dựng xe mô tô, ngồi trên yên xe và dùng tay trái để gói ma túy dưới chân trái nơi gác nhân của xe mô tô và thả xuống đất, đồng thời chỉ cho B lấy sói ma túy, sau khi nhận gói ma túy B đưa cho S1 số tiền 300.000 đồng, sau khi mua bán xong S1 điều khiển xe mô tô đi về nhà S đưa số tiền 300.000 đồng và trả lại điện thoại, xe mô tô cho S. Sau khi có gói ma túy đá mua được B và H cùng nhau đi lên đồi keo thuộc khối MS, thị trấn Q chia nhau mỗi người một nửa số ma túy mua được để sử dụng, B đưa về nhà và sử dụng hết, còn H ở lại sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Lê Ngọc S, thu giữ tại phòng ngủ của S 01 chiếc cân tiểu ly điện tử màu đen, nhãn hiệu POCKET SCALE đã qua sử dụng; 01 ống thủy tinh hình cong, trong suốt, một đầu đã bị gãy, số tiền 302.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh đen, gắn thẻ sim 0963.490.345 và 01 điện thoại di động đã qua sử dụng. Ngày 23/12/2021 cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Ngọc S.

Bản kết luận giám định số: 67/KL-PC09(Đ2-MT), ngày 31/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:

3

- Chất bám dính trong túi polyetylen màu trắng thu giữ của Sầm Phi H (ký hiệu M1) gửi đến giám định là ma túy (Methamphetamine).

- Chất bám dính trong đầu bàu tròn gắn trên chai nhựa thu giữ của Sầm Phi H (ký hiệu M2) gửi đế giám định là ma túy (methamphetamine).

Bản cáo trạng số: 45/CT-VKS-QH ngày 14/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, truy tố các bị cáo Lê Ngọc S và Phan Mạnh S1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo S1 thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, bị cáo Lê Ngọc S không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, tranh luận và giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 điều 251; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Ngọc S từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Mạnh S1 từ 24 tháng đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

Buộc bị cáo Lê Ngọc S chịu án phí Hình sự sơ thẩm, xem xét miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Mạnh S1 theo quy định của pháp luật và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chai nhựa màu trắng, loại 330ml, nhãn hiệu STING, có nắp màu xanh, trên nắp chai có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống nhựa màu trắng, một lỗ có gắn ống thủy tinh màu trắng được uốn cong một đầu, một đầu ống thủy tinh gắn một ống nứa màu xanh bên trong chai; 01 túi polyetylen màu trắng; 01 phong bì thư được niêm phong chứa vỏ bao niêm phong, phong bì thư, mảnh giấy màu trắng và 01 chiếc bật lửa màu trắng thu giữ của Sầm Phi H ngày 21/12/2021. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cân tiểu ly điện tử màu đen, nhãn hiệu POCKET SCALE, đã qua sử dụng; 01 ống thủy tinh hình cong, trong suốt, một đầu bị gãy thu giữ của Lê Ngọc S và tiêu hủy các phong bì thư chứa que test ma túy trong nước tiểu của Lê Ngọc S, Phan Mạnh S1, Sầm Phi H và Trương Văn B.

Truy thu số tiền 300.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán ma túy của bị cáo Lê Ngọc S.

Trả lại cho bị cáo Lê Ngọc S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại 1280, màu xanh đen, loai bàn phím, có số seri (IMEI) 356338053273789, gán sim số 0963.490.345, điện thoại đã qua sử dụng và 01 đôi giày màu trắng đã qua sử dụng, được niêm phong.

Trả lại số tiền 302.000 đồng thu giữ hiện đang được tạm gửi tại tài khoản Ngân hàng của Công an huyện Quỳ Hợp cho Lê Ngọc S, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

4

Tại phần tranh luận bị cáo Phan Mạnh S1 không có ý kiến tranh luận gì. Nới lời nói sau cùng tại phiên tòa, bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Lê Ngọc S tranh luận, cho rằng lúc khám xét không thu giữ được ma túy tại nhà bị cáo, bị cáo không được đưa gói ma túy, điện thoại và xe mô tô cho Phan Mạnh S1 đi giao cho B trong ngày 21/12/2021, bị cáo cho rằng bản thân bị cáo không phạm tội theo như truy tố của Viện kiểm sát. Tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người làm chứng Sầm Phi H, Mạc Thiên P, Lê Dung T, Nguyễn Thị H và Hồ Ngọc H tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án những người làm chứng đã có lời khai đầy đủ, được nhận dạng, đối chất, việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người làm chứng là đúng quy định.

Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản sự việc; Biên bản khám xét; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu; Biên bản mở niêm phong lấy mẫu giám định; Kết luận giám định; Lệnh thu giữ thư tín, điện tín; Ghi hình có âm thanh trong quá trình lấy lời khai; Biên bản kiểm tra thông tin, dữ liệu điện tử; Bản ảnh, dữ liệu điện tử lưu trữ; Biên bản mở niêm phong kiểm tra dữ liệu, thông tin trong điện thoại thu giữ; Công văn trả lời của tập đoàn viễn thông quân đội VIETTELL về số thuê bao; Biên bản tiếp nhận người ra đầu thú; Bản tự khai, biên bản lấy lời khai của các bị cáo, biên bản hỏi cung, đối chất tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai nhận của bị cáo Phan Mạnh Sang và những người làm chứng tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:

Vào ngày 21/12/2021 Trương Văn B cùng Sầm Ngọc H góp được số tiền 300.000 đồng để cùng mua ma túy sử dụng, trưa cùng ngày B dùng số điện thoại 0967.610.476 của mình gọi đến số điện thoại 0963.490.345 của Lê Ngọc S để hỏi mua 01 gói ma túy đá (Methamphetamine) với số tiền là 300.000 đồng và được S

5

đồng ý bán. Sau đó S đưa cho Phan Mạnh S1 01 gói ma túy, điện thoại di động và chiếc xe mô tô của mình, nói với S1 đưa gói ma túy đi giao cho cho B tại khu vực cầu tràn giáp ranh giữa thị trấn Q và xã CĐ rồi cầm số tiền 300.000 đồng đưa về cho S. Hành vi bán ma túy nhằm mục đích thu lợi bất chính của các bị cáo Lê Ngọc S và Phan Mạnh S1 đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người và đúng tội.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Bản thân các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự và nhận thức được tác hại của chất ma túy, nhưng vẫn cố ý phạm tội, nên cần lên cho các bị cáo mức án thật nghiêm khắc nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cho các bị cáo có thời gian sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung. Xét về vai trò trong vụ án bị cáo Lê Ngọc S là người giữ vai trò chính, chủ mưu trong việc mua bán ma túy, bị cáo Phan Mạnh S1 giữ vai trò là người giúp sức tích cực cho S trong việc mua bán trái phép chất ma túy, S1 thừa nhận là người trực tiếp cầm gói ma túy đi giao theo đề nghị từ S.

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo Phan Mạnh S1 đã tự nguyện ra đầu thú, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đó là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Lê Ngọc S từ giai đoạn điều tra cho đến tại phiên tòa không thành khẩn khai báo, cố tình quanh co chối tội, do đó Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ là khai báo thành khẩn quy dịnh tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo.

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê Ngọc S không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, tuy nhiên căn cứ vào các chứng cứ:

Lời khai nhận của bị cáo Phan Mạnh S1 và những người làm chứng Vi Thị H, Trương Văn B, Sầm Phi H hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khách quan thu thập được trong quá trình điều tra như dữ liệu danh bạ điện thoại lưu giữ kiểm tra trong điện thoại của các bị cáo và người làm chứng Trương Văn B, Vi Thị H, dữ liệu lịch sử cuộc gọi đi và đến trong ngày 20/12/2021 và ngày 21/12/2021, phù hợp với thời gian, cung đường di chuyển đến địa điểm giao dịch mua bản ma túy mà camera an ninh ghi lại được hình ảnh của bị cáo Phan Mạnh S1 và người làm chứng Trương Văn B, Sầm Phi H trong ngày 21/12/2021.

6

Căn cứ vào lịch sử cuộc gọi đi, cuộc gọi đến của thuê bao 0963.490.345 do bị cáo Lê Ngọc S sử dụng trong 02 ngày 20/12/2021 và 21/12/2021, được tập đoàn viễn thông quân đội (VIETTEL) cung cấp cho thấy, lịch sử cuộc gọi giữa số 0846 873 068 do Vi Thị H sử dụng, số 0967 610 476 do Trương Văn B sử dụng trong ngày 20/12/2021 phù hợp với lời khai nhận H và B thừa nhận H gọi điện thoại cho Lê Ngọc S để giới thiệu B với S liên lạc làm quen, trao đổi mua ma túy, địa điểm lúc liên lạc được ghi nhận ở tại khu vực thị trấn Q.

Ngày 21/12/2021 trong lịch sử cuộc gọi đi và đến của số 0963.490.345 do bị cáo S sử dụng thể hiện vào lúc 12 giờ 19 phút 35 giây, tại khu vực khối H, thị trấn Q gọi đến số điện thoại 0986 653 901 do bị cáo Phan Mạnh S1 sử dụng, phù hợp lời khai nhận của bị cáo S1 và người làm chứng anh Hồ Ngọc H, sau khi nghe S gọi điện thoại S1 đã nhờ anh H chở xuống nhà của bị cáo S tại khối H, thị trấn Q. Vào khoảng thời gian từ 14 giờ 48 phút 37 giây đến 14 giờ 58 phút 19 giây thể hiện có sự liên lạc qua lại giữa số điện thoại 0967 610 476 do Trương Văn B sử dụng với số điện thoại 0963.490.345 S sử dụng, phù hợp khách quan với thời gian trao đổi mua bán ma túy theo lời khai nhận của bị cáo Phan Mạnh S1 và người làm chứng Trương Văn B, Sầm Ngọc H, cũng như dữ liệu hình ảnh camera ghi lại hình ảnh vào đúng vào thời gian trên ghi lại được hình ảnh bị cáo S1 thừa nhận đi giao ma túy và người làm chứng B, H thừa nhận đến khu vực khối H, thị trấn Q để mua ma túy với bị cáo S theo thỏa thuận qua trao đổi qua điện thoại trước đó.

Hình ảnh camera an ninh ghi lại vào khoảng thời gian ngay sau khi B gọi điện thoại cho bị cáo S trao đổi mua ma túy xong theo lịch sử cuộc gọi giữa hai bên, đến 14 giờ 56 phút ngày 21/12/2021 camera ghi lại hình ảnh của B và H đi xe máy di chuyển theo hướng ra khu vực cầu tràn giáp ranh giữa thị trấn Q và xã CĐ, đến 14 giờ 58 phút cùng ngày 21/12/2021 ghi nhận hình ảnh bị cáo Phan Mạnh S1 di chuyển trên chiếc xe AIRBLADE biển kiểm soát 37H1-129.79, màu đỏ đen là xe mô tô của bị cáo Lê Ngọc S di chuyển ra khu vực cầu tràn giáp ranh giữa thị trấn Q và xã CĐ, trong khoảng thời gian từ 15 giờ 00 phút đến 15 giờ 00 phút 21 giây ghi lại hình ảnh bị cáo Phan Mạnh S1 điều khiển xe quay trở về. Hình ảnh và thời gian từ dữ liệu camera thu được phù hợp với lời khai nhận của bị cáo Phan Mạnh S1 và những người làm chứng B, H về việc mua bán ma túy vào trưa ngày 21/12/2021.

Trong qua trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa xét xử tuy bị cáo Lê Ngọc S không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nhưng căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ khách quan đã nêu trên phù hợp với lời khai nhận của bị cáo Phan Mạnh S1 và những người làm chứng Hội đồng xét xử nhận định, hoàn toàn có căn cứ khẳng định vào trưa ngày 21/12/2021 bị cáo Lê Ngọc S đã có hành vi nhờ bị cáo S1 đưa 01 gói ma túy dạng đá (Methamphetamine) đi bán cho Trương Văn B, Sầm Ngọc H và lấy số tiền 300.000 đồng về cho S. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An là có căn cứ.

7

Trong quá trình điều tra, ngoài lần bán ma túy cho Trương Văn B và Sầm Ngọc H vào trưa ngày 21/12/2021 bị truy tố, xét xử ra, theo lời khai của Vi Thị H trong tháng 11 năm 2021 Hòa có 04 lần liên hệ mua ma túy đá với Lê Ngọc S để sử dụng. Trương Văn B và Mạc Thiên P khai nhận vào ngày 20/12/2021 cả hai góp tiền mua 01 gói ma túy với Lê Ngọc S tại nhà nghỉ HQ tại khối MB, thị trấn Q và bản thân bị cáo Phan Mạnh S1 khai nhận trước đó đã 02 lần mua ma túy đá với bị cáo Lê Ngọc S để sử dụng, nhưng trong quá trình điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ khách quan để chứng minh về hành vi bán ma túy theo lời khai nhận của bị cáo S1 và những người làm chứng đã nêu trên, nên không có căn cứ để xem xét xử lý, buộc tội đối với bị cáo Lê Ngọc S đối với những lần mua bán ma túy trước đó.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma trúy của Sầm Phi H bị bắt quả tang, do chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị cơ quan Công an huyện Quỳ Hợp ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật là đúng quy định.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị xem xét áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy, các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, đang bị tạm giam và không có tài sản để đảm bảo thi hành án, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 01 chiếc chai nhựa màu trắng, loại 330ml, nhãn hiệu STING, có nắp màu xanh, trên nắp chai có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống nhựa màu trắng, một lỗ có gắn ống thủy tinh màu trắng được uốn cong một đầu, một đầu ống thủy tinh gắn một ống nứa màu xanh bên trong chai; 01 túi polyetylen màu trắng; 01 phong bì thư được niêm phong chứa vỏ bao niêm phong, phong bì thư, mảnh giấy màu trắng và 01 chiếc bật lửa màu trắng thu giữ của Sầm Phi H ngày 21/12/2021. Vật chứng thu giữ của bị cáo Lê Ngọc S gồm 01 (một) chiếc cân tiểu ly điện tử màu đen, nhãn hiệu POCKET SCALE, đã qua sử dụng; 01 ống thủy tinh hình cong, trong suốt, một đầu bị gãy và các phong bì thư chứa que test ma túy trong nước tiểu của Lê Ngọc S, Phan Mạnh S1, Sầm Phi H Và Trương Văn B là những vật chứng không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại 1280, màu xanh đen, loai bàn phím, có số seri (IMEI) 356338053273789, gắn sim số 0963.490.345, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Lê Ngọc S là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc, trao đổi mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước.

Truy thu số tiền 300.000 đồng từ bị cáo Lê Ngọc S do thu lợi bất chính mà có từ việc bán ma túy cho Trương Văn B và Sầm Phi H vào ngày 21/12/2021.

Trả lại cho bị cáo Lê Ngọc S 01 đôi giày màu trắng đã qua sử dụng, được niêm phong theo quy định.

8

Trả lại số tiền 302.000 đồng cho Lê Ngọc S hiện đang được tạm gửi tại tài khoản Ngân hàng của Công an huyện Quỳ Hợp, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ số tiền để đảm bảo cho việc thi hành án sau này.

Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Ngọc S và Phan Mạnh S1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc S 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/12/2021.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Phan Mạnh S1 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 28/12/2021.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy đối với những vật chứng, gồm:

01 (một) chiếc chai nhựa màu trắng, loại 330ml, nhãn hiệu STING, có nắp màu xanh, trên nắp chai có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống nhựa màu trắng, một lỗ có gắn ống thủy tinh màu trắng được uốn cong một đầu, một đầu ống thủy tinh gắn một ống nứa màu xanh bên trong chai; 01 (một) túi polyetylen màu trắng; 01 phong bì thư được niêm phong chứa vỏ bao niêm phong, phong bì thư, mảnh giấy màu trắng và 01 (một) chiếc bật lửa màu trắng thu giữ của Sầm Phi H ngày 21/12/2021.

01 (một) chiếc cân tiểu ly điện tử màu đen, nhãn hiệu POCKET SCALE, đã qua sử dụng; 01 (một) ống thủy tinh hình cong, trong suốt, một đầu bị gãy thu giữ của bị cáo Lê Ngọc S.

Các phong bì thư chứa que test ma túy trong nước tiểu của Lê Ngọc S, Phan Mạnh S1, Sầm Phi H và Trương Văn B.

(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, lập ngày 15/6/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Hợp và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp).

- Tịch thu, hóa giá sung quỹ Nhà nước đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại 1280, màu xanh đen, loai bàn phím, có số seri (IMEI) 356338053273789, gắn sim số 0963.490.345, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Lê Ngọc S (Có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, lập ngày 15/6/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Hợp và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp).

- Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng từ bị cáo Lê Ngọc S.

9

- Trả lại cho bị cáo Lê Ngọc S 01 đôi giày màu trắng đã qua sử dụng, được niêm phong theo quy định (Có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, lập ngày 15/6/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Hợp và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp).

Trả lại số tiền 302.000 đồng cho Lê Ngọc S hiện đang được tạm gửi tại tài khoản Ngân hàng của Công an huyện Quỳ Hợp (Theo giấy nộp tiền và Lệnh thanh toán tại Ngân hàng Agribank phòng giao dịch huyện Quỳ Hợp vào ngày 09/5/2022), tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ số tiền để đảm bảo cho việc thi hành án.

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Điều 12, Điều 14 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Ngọc S chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Mạnh S1.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ