- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn M và đồng bọn phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Vũ Văn M 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Trừ cho bị cáo 05 ngày bị tạm giữ (từ ngày 17/7/2022 đến ngày 22/7/2022) bằng 15 ngày cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B1 án số: 58/2022/HS-ST Ngày 20-10-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Thanh Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Vũ Văn M, sinh ngày 20/10/1973 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn U, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T1, sinh năm 1933 và bà Nguyễn Thị C1 (đã chết); có vợ là Phạm Thị O1, sinh năm 1976; có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2005; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 112/QĐ-XPVPHC ngày 24/9/2021 của UBND xã T, huyện K xử phạt Vũ Văn M 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép. Ngày 28/9/2021 M đã thi hành khoản tiền phạt trên; nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2022 đến ngày 22/7/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2. Nguyễn Văn H, sinh ngày 10/9/1986 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn U, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1961; có vợ là Nguyễn Thị T3, sinh năm 1991; có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2022 đến ngày 22/7/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
3. Nguyễn Văn K, sinh ngày 09/11/1966 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn U, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ1 (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị L1, sinh năm 1968; có 03 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2022 đến ngày 22/7/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
4. Nguyễn Văn L, sinh ngày 01/12/1970 tại Bắc Giang. Nơi cư trú: Thôn U, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe ô tô tải; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 (đã chết) và bà Trần Thị C2, sinh năm 1944; có vợ là Khúc Thị H2, sinh năm 1972; có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2022 đến ngày 22/7/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Vũ Văn D; vắng mặt.
2. Anh Vũ Văn C; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 16/7/2022, Vũ Văn M, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn L đến khu vực chòi trông đầm của gia đình anh Vũ Văn C ở thôn U, xã T, huyện K ngồi chơi và cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền. Cả nhóm lấy 02 bộ bài tú lơ khơ có sẵn ở chiếu tại chòi để đánh bạc. Cách thức đánh bạc được quy ước như sau: Mức chơi là 10.000 đồng, 20.000 đồng, 30.000 đồng tương ứng với số tiền mà người chơi về thứ hai, ba, tư phải trả cho người về nhất, người nào “Cháy” phải trả cho người về nhất số tiền 50.000 đồng, người nào “ù” thì ba người còn lại mỗi người phải trả cho người ù số tiền 70.000 đồng. Người nào ù sẽ bỏ ra 10.000 đồng để cho người dọn dẹp chòi trông đầm. Trong khi đánh bạc không bố trí người canh gác hay cầm cố tài sản, không phải nộp tiền hồ. Đến 17 giờ 05 phút cùng ngày thì bị Công an huyện K phát hiện kiểm tra hành chính và thu giữ vật chứng gồm: 02 bộ bài tú lơ khơ và số tiền 5.813.000 đồng (tại chiếu bạc 3.600.000 đồng, trong người các đối tượng 2.213.000 đồng).
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 11/QĐ-VKSKT ngày 11/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố các bị cáo Vũ Văn M, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn L đều về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thống nhất khai nhận tội: Khoảng 11 giờ ngày 16/7/2022 M, H, K, L cùng rủ nhau ra chòi trông đầm của gia đình anh C để đánh bạc. Cả nhóm lấy 02 bộ bài tú lơ khơ có sẵn ở chiếu trong chòi để đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền. Cả nhóm thống nhất người nào ù sẽ bỏ ra 10.000 đồng để cho người dọn dẹp chòi trông đầm. Trong khi đánh bạc không phải nộp tiền hồ, không bố trí người canh gác hay cầm đồ tài sản. M dùng số tiền 1.706.000 đồng đánh bạc, thua bạc 90.000 đồng. H dùng số tiền 2.000.000 đồng đánh bạc, thua bạc 110.000 đồng. K dùng số tiền 1.907.000 đồng đánh bạc, thắng bạc 140.000 đồng. L dùng 200.000 đồng đánh bạc, thua bạc. Tổng số tiền các bị cáo dùng vào đánh bạc là 5.813.000 đồng đều bị thu giữ tại chiếu bạc và trên người các bị cáo. Đến 17 giờ 05 phút cùng ngày bị Công an huyện K phát hiện bắt giữ và thu giữ vật chứng.
Sau quá trình xét hỏi, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng như bản Quyết định truy tố và đề nghị Tòa án:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Vũ Văn M mức án từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Trừ cho bị cáo 05 ngày bị tạm giữ (từ ngày 17/7/2022 đến ngày 22/7/2022) bằng 15 ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập hàng tháng của bị cáo từ 05% - 10 % để sung công quỹ Nhà nước.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: + Nguyễn Văn H, từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.
+ Nguyễn Văn K, từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.
Trừ cho mỗi bị cáo 05 ngày bị tạm giữ (từ ngày 17/7/2022 đến ngày 22/7/2022) bằng 15 ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập hàng tháng của mỗi bị cáo từ 5% - 10% để sung công quỹ Nhà nước.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự:
Phạt tiền: Nguyễn Văn L từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu số tiền 5.813.000 đồng của các bị cáo dùng vào đánh bạc để sung công quỹ Nhà nước.
+ Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên B1 vi phạm hành chính, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 11 giờ ngày 16/7/2022, Vũ Văn M, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn L đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền tại chòi trông đầm của gia đình anh C với tổng số tiền 5.813.000 đồng bị phát hiện bắt giữ cùng vật chứng. Như vậy, hành vi của Vũ Văn M, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn L đã thỏa mãn cấu thành đồng phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, là điều kiện, nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần xử lý nghiêm đối với các bị cáo, đồng thời để phòng ngừa tội phạm.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án xét vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này, các bị cáo đều thống nhất rủ nhau cùng đánh bạc được thua bằng tiền. Bị cáo M tham gia đánh bạc tích cực, dùng số tiền 1.706.000 đồng đánh bạc. Bị cáo có 01 tiền sự tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 112/QĐ-XPVPHC ngày 24/9/2021 của UBND xã T, huyện K xử phạt M 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép. Ngày 28/9/2021 M đã thi hành xong khoản tiền phạt trên nên chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên M phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các bị cáo khác trong vụ án. Cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự; có bố đẻ là thương binh hạng 2/4; gia đình có đơn xin bảo lãnh được chính quyền xác nhận. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Các bị cáo H, K, L đều tham gia đánh bạc tích cực. H dùng 2.000.000 đồng đánh bạc, K dùng 1.907.000 đồng đánh bạc, L dùng 200.000 đồng đánh bạc. Cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với các bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đều chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; gia đình các bị cáo đều có đơn xin bảo lãnh được chính quyền xác nhận. Do đó, cần cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung:
Đối với các bị cáo bị khấu trừ thu nhập và hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo M, H, K khai nhận có thu nhập kinh tế ổn định hàng tháng là: M, K 3.000.000 đồng, H 7.000.000 đồng; phù hợp với các tài liệu xác M tại địa phương, cần khấu trừ 10% thu nhập của mỗi bị cáo để sung công quỹ Nhà nước.
Đối với chòi trông đầm của gia đình anh Vũ Văn C mà các bị cáo sử dụng đánh bạc thuộc quyền sở hữu chung của gia đình anh C. Khi các bị cáo đánh bạc thì anh C đi làm từ sớm, không biết các bị cáo đánh bạc tại chòi trông đầm của gia đình mình bị phát hiện bắt giữ, nên không đặt ra tịch thu tài sản để sung công quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
- Cần tịch thu số tiền 5.813.000 đồng của các bị cáo dùng vào đánh bạc để sung công quỹ Nhà nước.
- 02 bộ bài tú lơ khơ; cần tịch thu tiêu hủy.
Trong vụ án này, anh Vũ Văn C chủ chòi trông đầm đi làm từ sáng sớm, không biết các bị cáo đánh bạc tại chòi bị phát hiện bắt giữ, nên không bị xử lý là có căn cứ.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Vũ Văn M 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Trừ cho bị cáo 05 ngày bị tạm giữ (từ ngày 17/7/2022 đến ngày 22/7/2022) bằng 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bẩy) tháng 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: + Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.
+ Nguyễn Văn K 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.
Trừ cho mỗi bị cáo 05 ngày bị tạm giữ (từ ngày 17/7/2022 đến ngày 22/7/2022) bằng 15 ngày cải tạo không giam giữ. Mỗi bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ.
Thời gian cải tạo không giam giữ của các bị cáo M, H, K tính từ ngày UBND xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng được giao giám sát giáo dục nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân UBND xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục.
Trong trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 100 Luật Thi hành án hình sự như sau: Người chấp hành án cải tạo không giam giữ có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó. Người chấp hành án cải tạo không giam giữ khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của UBND cấp xã, trường hợp không đồng ý thì UBND cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án cải tạo không giam giữ khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của UBND cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ vi phạm pháp luật, UBND cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho UBND cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan. Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc được thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này. Người chấp hành án cải tạo không giam giữ không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự:
+ Khấu trừ 10% thu nhập của bị cáo Vũ Văn M với thời gian 18 tháng, mỗi tháng bị khấu trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
+ Khấu trừ 10% thu nhập của bị cáo Nguyễn Văn H với thời gian 15 tháng, mỗi tháng bị khấu trừ 700.000đ (bẩy trăm nghìn đồng).
+ Khấu trừ 10% thu nhập của bị cáo Nguyễn Văn K với thời gian 15 tháng, mỗi tháng bị khấu trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự:
Phạt tiền: Nguyễn Văn L 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu số tiền 5.813.000đ (năm triệu, tám trăm mười ba nghìn đồng) của các bị cáo dùng vào đánh bạc để sung công quỹ Nhà nước (theo ủy nhiệm chi tại Kho bạc Nhà nước huyện K ngày 17/10/2022).
- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ có 52 quân bài (theo biên B1 bàn giao vật chứng ngày 11/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - THA hình sự + PC 10 + PV 06; - Chi cục THADS + Sở tư pháp; - Các bị cáo; - UBND xã T; - Lưu: hồ sơ vụ án; án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thanh Huyền |