- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cù Thế Vinh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:58/2021/HSST Ngày: 22/4/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thu Thủy.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Hải.
2. Ông Bùi Quý Minh Ánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 22/4/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2021/HSST ngày 19/3/2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/QĐXX-ST ngày 07/4/2021 đối với bị cáo:
Cù Thế V, tên gọi khác: Không; sinh năm 1999, tại Phổ Yên – Thái Nguyên; trú tại: Xóm D, xã TT, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cù Xuân V và bà Đào Thị N, bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: Không. Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/12/2020 đến ngày 24/12/2020 được huỷ bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã TT, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).
- Người làm chứng: Anh Vũ Đại H, sinh năm 1996;
Trú tại: Xóm C, xã NT, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên.
- Người chứng kiến:
1. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1981;
2. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1977;
Cùng trú tại: Xóm C, xã NT, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên;
(Anh H, anh C, anh K đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 16/12/2020 khi V đang ngồi uống nước tại quán nước vỉa hè gần đèn xanh đỏ ngã ba NT, thị xã PY thì có một người đàn ông không quen biết khoảng 30 tuổi, da ngăm đen, tóc ngắn, mặt tròn đến bàn uốc nước của V nói chuyện. Quá trình nói chuyện người này hỏi V muốn mua pháo nổ để đốt vào dịp tết nhưng không biết ai bán. Do muốn có tiền lời để tiêu tết, đồng thời trước đây V có nghe một người bạn nói tại khu vực cảng Đa Phúc có người tên S bán pháo nổ nên V đã đồng ý bán pháo cho người ngày. Người này đặt V mua 300 quả pháo trứng, V hẹn khoảng 18 giờ ngày 17/12/2020 sẽ gặp nhau trực tiếp và giao hàng tại khu vực phía sau trường trung học Phổ thông Lý Nam Đế (gần chùa Linh Thông thuộc địa phận xóm C, xã NT, thị xã PY). Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 17/12/2020 V đi đến quán điện thoại của anh Vũ Đại H để mượn xe SH có biển kiểm soát 20H1- 392.97 của anh H. V nói với anh H là mượn xe đi chơi. Sau đó V đem theo một ba lô màu xanh rồi đi xe đến cảng Đa Phúc mua 300 quả pháo trứng của người tên là S với giá 7.800.000đồng, người đó đưa cho V ba túi ni lon màu đen đựng pháo bên trong (V không kiểm tra). V để số pháo trên vào trong chiếc ba lô, để ba lô ở phía trước xe rồi điều khiển xe đến chỗ hẹn để bán pháo cho người đàn ông hẹn hôm trước. Khi V đi đến đoạn đường dân sinh thuộc xóm C, xã NT, thị xã PY thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng gồm: 295 vật dạng bóng đèn, một đầu hình tròn, một đầu hình trụ, có gắn dây màu xanh. Niêm phong ký hiệu P. Cùng ngày 17/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã PY tiến hành mở niêm phong số vật chứng thu giữ của V, cân trọng lượng được 11,1 kg. Lấy ngẫu nhiên 05 vật hình bóng đèn tròn trong số 295 vật dạng bóng đèn tròn có trọng lượng 0,2 kg cho vào một thùng bìa cát tông đề niêm phong ký hiệu M gửi đi giám định, còn lại 290 vật dạng bóng đèn tròn có tổng trọng lượng 10,9 kg cho vào một thùng cát tông niêm phong lại ký hiệu K để lưu kho.
Tại bản kết luận giám định số: 79/KL- KTHS ngày 28/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: 05 vật dạng bóng đèn tròn, mỗi vật có phần hình trụ dài 3,1 cm đường kính 2,7 cm, bên ngoài bọc giấy màu vàng, in chữ nước ngoài và gắn dây màu xanh, phần hình cầu có đường kính 4,1 cm, bên ngoài bọc giấy màu nâu, tất cả được niêm phong trong một thùng bìa cát tông có giáp lai của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã PY và chữ ký của các thành phần tham gia, ký hiệu M là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).
Tại Cơ quan điều tra, Cù Thế V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Bản cáo trạng số 52/CT-VKSPY ngày 19/3/2021 của Viện kiểm sát nhân nhân thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Cù Thế V về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo V đã khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, V khai: Ngày 17/12/2020 V đi xe máy SH biển kiểm soát 20H1- 392.97 mượn của anh Vũ Đại H đến cảng Đa Phúc tìm mua pháo của người tên là S với giá 7.800.000đồng, người đó đưa cho V ba túi ni lon màu đen đựng pháo bên trong (V không kiểm tra). V để số pháo trên vào trong chiếc ba lô, để ba lô ở phía trước xe rồi điều khiển xe đến chỗ hẹn để bán pháo cho người đàn ông hẹn hôm trước. Khi V đi đến đoạn đường dân sinh thuộc xóm C, xã NT, thị xã PY thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật toàn bộ vật chứng là 295 vật dạng bóng đèn, một đầu hình tròn, một đầu hình trụ, có gắn dây màu xanh (pháo nổ). Nếu không bị bắt V sẽ bán số pháo trên với giá 30.000đ/quả và sẽ thu được 1.050.000đồng (một triệu không trăm năm mươi đồng) tiền lãi.
Kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cù Thế V phạm tội “ Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Cù Thế V từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo V; về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ: 10,9 kg pháo nổ, 01 ba lô màu xanh
- đen; 03 túi ni non màu đen trong thùng cát tông ký hiệu K; về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong phần tranh luận bị cáo thừa nhận việc truy tố và xét xử đúng người, đúng tội, bị cáo không tranh luận gì. Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy việc làm của mình là sai, xin được hưởng mức án thấp nhất, xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã PY, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã PY, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, với vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản cân trọng lượng vật chứng, kết luận giám định…Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 17/12/2020, tại khu vực xóm Chùa, xã Nam Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Cù Thế V đã có hành vi vận chuyển trái phép 11,1 kg pháo nổ (loại pháo quả dạng bóng đèn tròn, mỗi vật có phần hình trụ dài 3,1 cm đường kính 2,7 cm, bên ngoài bọc giấy màu vàng, in chữ nước ngoài và gắn dây màu xanh, phần hình cầu có đường kính 4,1 cm, bên ngoài bọc giấy màu nâu), với mục đích để bán kiếm lời cho đối tượng không quen biết, không rõ địa chỉ cụ thể, nhưng V chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Việc chưa bán được số lượng pháo nổ nêu trên nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi, ý thức của Cù Thế V đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Do đó bản cáo trạng số 52/CT-VKSPY ngày 19/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 190 Bộ luật hình sự có nội dung.
1.Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246,248, 251, 253,254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000đồng đến 1.000.000.000đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a...
c...Buôn bán pháo nổ từ 06 kg đến dưới 40 kg.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Xét tính chất vụ án: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm (theo danh mục tại Nghị định của Chính phủ số: 59/2006/NĐ-CP ngày 02/6/2006 quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện và Nghị định 43/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 sửa đổi bổ sung Danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 02/6/2006 hướng dẫn thi hành Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện) trong đó quy định: Pháo nổ các loại. Do đó việc đưa ra truy tố, xét xử đối với bị cáo là cần thiết để răn đe và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9. Tháng 3 năm 2018 nhập ngũ đến tháng 1 năm 2020 xuất ngũ về địa phương, không có tiền án, tiền sự.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được lỗi lầm của mình đã gây ra, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có ông nội là Cù Xuân N là người có công với Nước được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ Hạng Ba, bà Ngoại của bị cáo là Vũ Thị C là thanh niên xung phong được tặng kỷ niệm chương. Nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo. Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Hội đồng xét xử thấy có căn cứ áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và lời thỉnh cầu của bị cáo cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương mà không cần cách ly xã hội vẫn đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt, đồng thời thể hiê ̣n sự khoan hồng của pháp luâ ̣t.
Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp được chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Mục đích bị cáo buôn bán pháo nổ để kiếm lời, lẽ ra cần phạt bị cáo một khoản tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước. Song xét thấy hiện nay bị cáo sống phụ thuộc vào gia đình, không có việc làm ổn định, không có tài sản. Nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
. Về vật chứng của vụ án gồm: 10,9 kg pháo nổ được niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu K, 01 ba lô màu xanh - đen; 03 túi nilon màu đen thu giữ của Cù Thế V còn lại sau giám định hiện đang được lưu giữ tại Ban chỉ huy quân sự thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu để tiêu hủy.
Trong quá trình bắt giữ Cơ quan điều tra còn tạm giữ của V: 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon da SH, biển kiểm soát 20H1 – 392.97, màu sơn: đen - cam và 01 chiếc điện thoại Iphone 7 Plus màu bạc. Quá trình điều tra đã xác định được: Chủ xe là anh Vũ Đại H, anh Hải cho V mượn xe và không biết V dùng vào việc phạm tội; chiếc điện thoại là của V cũng không sử dụng vào việc phạm tội, nên cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho anh H và bị cáo V là phù hợp.
.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331,333 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Các hành vi khác: Về nguồn gốc số pháo mà Cơ quan điều tra thu giữ, V khai mua của một người đàn ông tên S không rõ địa chỉ cụ thể như thế nào chỉ biết ở khu vực cảng Đa Phúc và người hỏi mua pháo của V cũng không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên bố Bị cáo Cù Thế V phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Cù Thế V 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Cù Thế V cho Ủy ban nhân dân xã TT, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo V.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 10,9 kg (mười phảy chín kilogam) pháo nổ được niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu K, 01 (một) ba lô màu xanh - đen, 03 (ba) túi nilon màu đen thu giữ của Cù Thế V.
Yêu cầu Cơ quan Công an thị xã PY phối hợp với Chi cục thi hành án dân sự thị xã PY, thực hiện việc tiêu hủy: 10,9 kg pháo nổ được niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu K, 01 ba lô màu xanh - đen, 03 túi nilon màu đen thu giữ của Cù Thế V hiện đang được lưu giữ tại Ban chỉ huy quân sự thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Cù Thế V phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331,333 Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - Bị cáo; - VKSND thị xã PY; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Cơ quan điều tra Công an thị xã PY; - THAHS; - CCTHA dân sự thị xã PY; - Ban chỉ huy quân sự thị xã PY; tỉnh Thái Nguyên; - UBND xã TT; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên) Hà Thị Thu Thủy |