vanban.org

Bản án 58/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Cao Bằng Tuyên án 28/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn c vào điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vi Văn T 17 (mười bẩy) năm tù, thời hạn ch p hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 03-02-2021. Việc xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2021/HS-ST
Ngày 28-5-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà N ng Biên H a

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đ Minh Tr ng.

Bà Hoàng Thị Lam.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoài Anh, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà M Thị Hân, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 346/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 05 năm 2021 đối với bị cáo:

H và tên: Vi Văn T (tên g i khác: Kh ng), sinh ngày 15 tháng 02 năm 1983 tại huyện K, tỉnh Cao Bằng;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và ch ở: X m P, x Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Trồng tr t; trình độ văn hoá: lớp 3/12 phổ th ng; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; t n giáo: kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng Vi Văn Đ(đ chết) và bà Triệu Thị Kh (đ chết); có vợ là Phương Thị H, sinh năm 1984 và 02 con lớn sinh năm 2006, con nh sinh năm 2008; tiền án: Năm 2016 bị T a án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 05 năm tù về tội vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới, tiền sự: kh ng;

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 03-02-2021 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam C ng an tỉnh Cao Bằng; c mặt

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị Bào, Luật sư thuộc Văn ph ng Luật sư Nguyễn Đình, Đoàn Luật sư tỉnh Cao Bằng, bào chữa cho bị cáo theo quy định của pháp luật; c mặt.

- Người làm chứng:

1. Lưu Văn Tr, sinh năm 1989, nơi cư trú: X m P, x Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

2. Hoàng Văn B, sinh năm 1985, nơi cư trú: X m P2, x P3, huyện K, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Hồi 06 giờ 30 phút ngày 03/2/2021 tại khu vực x m Đ3- C, x P3, huyện K, tỉnh Cao Bằng tổ c ng tác C ng an huyện K phát hiện Hoàng Văn B sinh năm 1985, trú tại X m P2, x P3, huyện K, tỉnh Cao Bằng c hành vi sử dụng trái phép ch t ma túy ở bờ s ng, tổ c ng tác đ lập biên bản sự việc, B khai nhận số ma túy ở bờ s ng vừa sử dụng xong B mua với Vi Văn T sinh 1983, trú tại x m P, x Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng.

Cùng ngày C ng an huyện K, tỉnh Cao Bằng tiến hành khám xét khẩm c p nơi ở của Vi Văn T thu giữ: 46 g i heroine được g i bằng túi nilon màu xanh c khối lượng là 45,73 gam (bốn mươi năm phẩy bảy ba gam) và niêm phong theo quy định, ký hiệu M u 1 thu giữ trong b rơm lúa để trên thanh tre tại căn gác phía sau t ng 2 ng i nhà (gác sát buồng ngủ th 3); 01 (một) g i heroine g i bằng túi nilon màu trắng c khối lượng 0,94 gam (kh ng phẩy chín tư gam) niêm phong ký hiệu M u 2 thu giữ trong túi qu n b của Tiến tại buồng ngủ thư 2 bên trái t ng 2; 01 (một) g i heroine g i bằng túi nilon màu xanh c khối lượng là 0,02 gam (kh ng phẩy kh ng hai gam) niêm phong ký hiệu M u 3 thu giữ trong tủ sát tường bên phải t ng 2. Ngoài ra tổ c ng tác c n tạm giữ 3.650.000đ (ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng); 02 điện thoại di động (01 điện thoại Oppo màu xanh, 01 điện thoại di động Nokia màu đen đều đ qua sử dụng); 01 con dao bằng kim loại dùng để cắt ma túy. Tổng số 03 m u vật thu giữ c khối lượng là: 46,69 gam (bốn mươi sáu phẩy sáu mươi chín gam).

Ngày 08/2/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an tỉnh Cao Bằng đ ra quyết định trung c u giám định. Tại bản kết luận giám định số 95/GĐMT ngày 19/02/2021 của Ph ng k thuật hình sự C ng an tỉnh Cao Bằng kết luận: Ba m u ch t bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại: Heroine .

Mở rộng điều tra vụ án đ xác định được như sau: Vi Văn T sử dụng ma túy từ năm 2020, để c ma túy sử dụng, T đ đi mua ma túy về vừa để sử dụng vừa để bán kiếm lời. Khoảng giữa tháng 01/2021 T đến đ u c u thuộc x m M, x Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng gặp một người đàn ng khoảng 35 tuổi (kh ng biết h , tên, địa chỉ) h i mua heroine với giá 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng), khi đ mua được heroine T dặn người đàn ng này l n sau T s mua 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) người này đồng ý, c n T mang ma túy đi về nhà và chia ra từng g i. Ngày 28/01/2021 T được bán ma túy cho Lưu Văn Tr sinh năm 1989 trú tại P, Đ, K, Cao Bằng một g i giá 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng); ngày 29/01/2021 T bán cho Hoàng Văn B sinh 1985, trú tại P2, P3, K, Cao Bằng một g i 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng). Đến ngày 31/01/2021 T mang theo 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) đến khu vực đ u c u thuộc x m M, x Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng mua tiếp 01 g i heroine với người đàn ng l n trước mang về nhà chia ra được 51 g i nh ; T c t gi u 46 g i trong b rơm lúa tại căn gác phía sau nhà; 01 g i để trong túi qu n, đến ngày 02/02/2021 T được bán cho Lưu Văn Tr và Hoàng Văn B m i người 01 g i heroine với giá 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng), số heroine c n lại T đ sử dụng cho bản thân, c n g i ma túy Cơ quan điều tra thu giữ trong tủ là của T để đ lâu kh ng nhớ thời gian nào.

Ngày 08-04-2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đ ra Cáo trạng số: 44/CTr-VKSCB(P1) truy tố Vi Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép ch t ma túy là đúng.

Đối với Người làm ch ng Hoàng Văn B và Lưu Văn Tr tại cơ quan điều tra đều khai nhận: B và Tr được mua ma túy với bị cáo nhiều l n, phù hợp với lời khai của bị cáo.

Kết thúc ph n xét h i, Kiểm sát viên tham gia phiên toà trình bày lời luận tội đánh giá các tài liệu, ch ng c ch ng minh hành vi phạm tội của bị cáo khẳng định quyết định truy c u trách nhiệm hình sự đối với Vi Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là c căn c pháp luật và v n giữ nguyên quyết định truy tố Vi Văn Tvề tội danh, điều luật đ viện d n nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Vi Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vi Văn T từ 17 năm đến 18 năm tù; kh ng áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật ch ng là ma túy; 01 con dao bằng kim loại.

Tịch thu phát mại sung c ng qu 01 điện thoại OPPO sử dụng thực hiện tội phạm; truy thu số tiền do phạm tội mà c với số tiền 4.400.000đ, xác nhận cơ quan C ng an đ tạm giữ bị cáo số tiền 3.650.000 đồng. Trả cho bị cáo 01 điện thoại NOKIA.

Bà Hà Thị Bào bào chữa cho bị cáo Vi Văn T: Nh t trí với nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Về nhân thân, bị cáo là người nghiện ma túy nên để c ma tuý sử dụng cho bản thân, bị cáo đ mua về bán lại cho những đối tượng nghiện khác để kiếm lời. Quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo đ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, quyết định hình phạt ở m c th p nh t Viện kiểm sát đề nghị, kh ng áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật ch ng: Nh t trí như đề nghị của Viện kiểm sát, xem xét trả cho bị cáo 01 điện thoại NOKIA.

Bị cáo T kh ng c lời bào chữa bổ sung, trong lời n i sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo Vi Văn T và những người tham gia tố tụng khác kh ng c người nào c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội:

Tại phiên t a bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Bản Cáo trạng truy tố; xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên t a hoàn toàn phù hợp với bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản h i cung, biên bản h i cung c sự tham gia của Kiểm sát viên, sự tham gia của người bào chữa; Biên bản khám xét hồi 09 giờ 05 phút ngày 03-02-2021 tại nhà riêng của Vi Văn T (X m P, x Đ, huyện K Cao Bằng); Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng l y m u giám định và niêm phong lại vật ch ng hồi 11 giờ 00 phút ngày 06-02-2021; Kết luận giám định số 95/GĐMT ngày19-02-2021 của Ph ng K thuật hình sự C ng an tỉnh Cao Bằng; Biên bản kiểm tra điện thoại đối với số thuê bao điện thoại bị cáo sử dụng; Lời khai của Hoàng Văn B, Lưu Văn Tr là 02 đối tượng mua ma túy với bị cáo và phù hợp với các tài liệu, ch ng c đ được thu thập đúng trình tự thủ tục tố tụng c trong hồ sơ vụ án; Do vậy có đủ căn c kết luận: Vi Văn T là người nghiện ma túy, để c ma túy để sử dụng, T đ đi mua ma túy về bán xoay v ng kiếm lời. Trước khi bi bắt T đ 02 l n mua ma túy với một người đàn ng kh ng quen biết tại đ u c u x m M, x Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng với tổng số tiền 41.200.000đ mang về chia nh để sử dụng và bán lại, Tiến được bán heroin cho Lưu Văn Tr và Hoàng Văn B m i người 02 l n, m i l n 01 g i heroine với giá 1.100.000đ. Ph n heroine c n lại c khối lượng: 46,69 gam đ bị Cơ quan điều tra khám xét thu giữ.

Hành vi mua bán trái phép ch t ma tuý của Vi Văn T đ xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với ch t ma tuý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo c đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận th c được hành vi của mình gây nguy hiểm cho x hội nhưng v n cố tình thực hiện tội phạm với l i cố ý trực tiếp, mục đích, động cơ phạm tội là nhằm thu lợi b t chính từ việc mua bán trái phép ch t ma tuý. Hành vi mua bán trái phép 46,69 gam Heroine của bị cáo Vi Văn T có đủ yếu tố c u thành tội phạm về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” thuộc trường hợp “Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam” được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố Vi Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn c pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Vi Văn T là đặc biệt nghiêm tr ng, mua bán trái phép ch t ma tuý với khối lượng lớn, hành vi đ của bị cáo đã đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong cuộc đ u tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma tuý đang ngày càng diễn biến ph c tạp, hành vi mua bán trái phép ch t ma tuý của bị cáo đã góp ph n làm gia tăng tệ nạn x hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng x u đến trật tự an toàn x hội nên c n xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác, đồng thời phục vụ c ng tác ph ng ngừa, đ u tranh chống tội phạm ma tuý ở địa phương.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Vi Văn T là người nghiện ma túy, có 01 tiền án chưa được x a án tích: năm 2016 bị T a án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 05 năm tù về tội vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới; trong vụ án bị cáo Mua bán trái phép ch t ma túy nhiều l n; do vậy bị cáo phải chịu 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Phạm tội 02 l n trở lên và Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, đồng thời bị cáo cũng được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. M c hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính ch t, m c độ phạm tội của bị cáo, c căn c pháp luật c n ch p nhận. Xét ý kiến của người bào chữa cho bị cáo là đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Hội đồng xét xử th y kh ng c n thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo là người nghiện ma túy, kh ng nghề nghiệp.

Vể các v n đề khác:

Đối với người đàn ng bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo kh ng biết nhân thân lai lịch cụ thể, nên Cơ quan điều tra kh ng c điều kiện mở rộng điều tra. Nếu sau này c đủ căn c s xử lý bằng một vụ án khác.

Đối với Hoàng Văn B và Lưu Văn Tr là đối tượng mua ma túy với bị cáo Tiến, mục đích mua về sử dụng cho bản thân và đ sử dụng hết, Cơ quan điều tra đ ra quyết định xử phạt vi phạt hành chính là c căn c .

Về xử lý vật ch ng: Căn c vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; xét để nghị của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật ch ng là c căn c , c n xử: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong ch a vật ch ng là ma túy; 01 phong bì niêm phong bên trong ch a 01 con dao bằng kim loại; C n truy thu khoản tiền do phạm tội mà c để nộp ngân sách Nhà nước với số tiền 4.400.000đ, xác nhận cơ quan c ng an đ tạm giữ đối với bị cáo 3.650.000 đồn, nay c n tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án; tịch thu phát mại, 01 điện thoại di động OPPO đ qua sử dụng l y tiền nộp ngân sách Nhà nước; xử trả bị cáo 01 điện thoại di động NOKIA.

Về án phí: Bị cáo Vi Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn c vào điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vi Văn T 17 (mười bẩy) năm tù, thời hạn ch p hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 03-02-2021.

2. Việc xử lý vật chứng:

Căn c vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định mặt trước ghi Vật ch ng vụ Vi Văn T, xảy ra 3/2/2021, tại x m P, x Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng ; 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định mặt trước ghi 01 con dao bằng kim loại phát hiện tại buồng ngủ phía sau t ng 2 ng i nhà 3/2/2021 .

Truy thu số tiền do phạm tội mà có để nộp ngân sách Nhà nước: 4.400.000đ (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Xác nhận cơ quan C ng an đ tạm giữ số tiền 3.650.000,đ (ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), c kết luận giám định kèm theo chuyển theo vụ án, nay c n tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu phát mại lấy tiền nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nh n hiệu OPPO dạng cảm ng, màu xanh, đ qua sử dụng, số IMEI thao tác * 06 868683049380110, máy c gắn 02 sim.

Trả lại cho bị cáo: 01(một) điện thoại di động NOKIA màu đen dạng B phím, đ qua sử dụng. Số IMEI thao tác *06# 354646058922909. Số IMEI trong nắp pin 357271/05/217755/3, máy c gắn 01 sim.

Xác nhận toàn bộ các vật ch ng nêu trên đã được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật ch ng số 71 ngày 12-04-2021.

3. Về án phí:

Căn c vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Vi Văn Tphải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Vi Văn Tc quyền kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ