- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƢỜNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2021/HS-ST Ngày: 20-7-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƢỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phùng Văn Thông
2. BàVũ Thị Thanh H
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Ngô Thị H, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1986; Sinh trú quán: Thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn B (đã chết) và bà mẹ đẻ Nguyễn Thị L, sinh năm 1941; Chồng: Nguyễn Văn T, sinh năm 1983 và có có 02 con (lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013); Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 29/3/2021 đến ngày 06/4/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại đến nay (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 20, ngày 29/3/2021, Ngô Thị H đang bán hàng tạp hóa tại nhà thì có 02 người nam giới tự khai tên là Nguyễn Trung K - sinh năm 1992 và Nguyễn Xuân L - sinh năm 1996 đều trú tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đi đến hỏi mua nước uống rồi sau đó hai người này hỏi mua số lô, số đề trái phép của H. Lúc này, do hám lời nên H đã đồng ý bán số lô, số đề trái phép cho L, K. Do trước đó H có nghe khách đến mua hàng nói chuyện về cách tính thắng thua, giá bán số lô 2 số và số đề nên H thỏa thuận và thống nhất hình thức chơi, tỷ lệ ăn thua với K, L cụ thể như sau: Cách tính thắng thua khi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề trái phép phụ thuộc vào kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày. Số lô H bán là số tự nhiên bất kỳ có 02 chữ số trong dãy số từ 00 đến 99 do khách chọn, mỗi một điểm lô thì H bán với giá 22.500 đồng, nếu số lô của khách mua mà trùng với 02 số cuối của bất kỳ một giải thưởng nào từ giải đặc biệt đến giải bảy thì khách sẽ thắng và được H trả tiền thưởng theo tỷ lệ cứ 01 điểm lô thì được 80.000 đồng, nếu số lô khách mua trùng với 02 số cuối của nhiều giải thì số tiền khách được hưởng tương ứng cứ nhân lên theo số lượng như vậy nhưng không được hưởng quá 03 lần, nếu khách thua thì H sẽ được hưởng số tiền mà khách dùng để mua số lô đó. Đối với số đề là số có 2 chữ số bất kỳ, nếu số khách mua mà trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì khách sẽ thắng và được H trả thưởng cho số tiền gấp 75 lần lượng tiền khách dùng để mua số đề đó, nếu số đề khách mua không trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì khách thua và H sẽ được hưởng số tiền khách dùng để mua số đề đó.
Sau khi thống nhất, K bảo H bán cho K số lô 86 với lượng 50 điểm tương ứng với số tiền 1.125.000 đồng, số đề 43 với lượng tiền 75.000 đồng, H đồng ý và khuyến mại cho K thêm 25.000 đồng cộng thêm vào tiền mua số đề nêu trên. Tổng số tiền K sử dụng mua số lô, số đề trái phép của H là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). H dùng 01 chiếc bút bi mực nước màu xanh viết các số lô, số đề K mua cùng lượng điểm, lượng tiền tương ứng vào 01 tờ lịch là cáp lô đề với nội dung “29/3/2021 Lô/ 86-50; Đề /43-100” rồi đưa lại cáp lô đề này cho K, sau đó H ghi lại các số lô, số đề cùng lượng điểm, lượng tiền tương ứng mà K vừa mua vào 01 tờ giấy A4 là bảng tích kê các số lô, số đề cùng lượng tiền tương ứng bán được trái phép cho khách trong ngày mục đích đối chiếu thắng, thua với khách để chi trả tiền. K cầm tờ cáp H đưa cho cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi lấy ra số tiền 1.200.000 đồng trả cho H. H cầm tiền K trả rồi để luôn tại mặt bàn nơi mình đang ngồi ghi bán số lô, số đề trái phép.
Ngay sau khi K mua số lô, số đề trái phép của H xong thì L bảo H bán cho L hai số lô 34 và 43 cùng với lượng 100 điểm/ 01 số lô. Tổng số tiền L mua số lô trái phép của H là 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). H cầm số tiền 4.500.000 đồng do L đưa cho để tại mặt bàn cùng với số tiền K trả lúc trước rồi dùng 01 chiếc bút bi mực nước màu xanh viết các số lô L mua cùng lượng điểm tương ứng vào 01 tờ lịch là cáp lô đề với nội dung “29/3/2021 Lô/34-100, 43-100/” rồi đưa lại cáp lô đề này cho L, sau đó H ghi lại các số lô cùng lượng điểm tương ứng mà L vừa mua vào cùng tờ giấy A4 mà H đã ghi lại các số lô, số đề bán cho K trước đó để đối chiếu thắng thua. Đúng lúc này thì lực lượng Công an huyện Vĩnh Tường kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang H có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép.
Vật chứng thu giữ gồm:
- Thu tại bàn trong gian phòng bếp ở tầng 1 nhà H là nơi H ngồi ghi bán số lô, số đề trái phép những đồ vật, tài sản gồm: Số tiền 5.700.000 đồng (Năm triệu bảy trăm nghìn đồng); 01 (một) tờ giấy A4 có ghi nhiều số và ký tự gồm: “29/3/2021; 86-50 K; 34-100, 43-100 L, 43-100 K”; 01 (một) chiếc bút bi mực màu xanh;Thu tại tay phải của Nguyễn Xuân L đang cầm 01 tờ lịch, mặt sau có ghi nội dung: “29/3/2021 Lô/34-100, 43-100/”.
- Thu tại túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Trung K đang mặc: 01 tờ lịch, mặt sau có ghi nội dung: “29/3/2021 Lô/ 86-50; Đề /43-100”.
Toàn bộ các tang vật nêu trên được niêm phong theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số: 58/CT-VKS-VT ngày 24 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Ngô Thị H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Ngô Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và trình bày ngoài lần bán số lô, số đề cho K và L vào ngày 29/3/2021 bị Công an huyện Vĩnh Tường bắt quả tang thì H không bán số lô, số đề cho ai khác; H tự ghi số lô, số đề trái phép, được tiền khi thắng và tự trả thưởng khi thua, không làm thư ký cho chủ lô, đề nào.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo H và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo H phạm tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo H từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng; phạt bị cáo 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
.Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 29/3/2021, tại nhà ở của Ngô Thị H, Công an huyện Vĩnh Tường bắt quả tang H có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép cho 02 người nam giới tự khai tên là Nguyễn Trung K, sinh năm 1992 và Nguyễn Xuân L, sinh năm 1996 đều trú tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc với tổng số tiền là 5.725.000 đồng (trong đó: H đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép cho K với tổng số tiền là 1.225.000 đồng và H đánh bạc bằng hình thức bán số lô trái phép cho L với tổng số tiền là 4.500.000đ). Vật chứng thu giữ gồm: Thu của Ngô Thị H tổng số tiền 5.700.000đ; 01 (một) tờ giấy A4 có ghi nhiều số và ký tự gồm: “29/3/2021; 86-50 K; 34-100, 43-100 L, 43-100 K”; 01 (một) chiếc bút bi mực màu xanh; Thu của Nguyễn Xuân L 01 tờ lịch, mặt sau có ghi nội dung: “29/3/2021 Lô/34-100, 43-100/”; thu của Nguyễn Trung K 01 tờ lịch, mặt sau có ghi nội dung: “29/3/2021 Lô/ 86-50; Đề /43-100”.
Với hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề thắng thua bằng tiền của H, nhằm mục đích tư lợi như nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền…có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét về tính chất, mức độ hành vi thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ hành vi đó đã trực tiếp xâm hại tới trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an địa pH, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Do vậy, cần thiết phải có hình phạt tương xứng đối với bị cáo để trừng trị và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa và giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trước lỗi lầm đã phạm và mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật; bị cáo có bố là ông Ngô Văn Bá được tặng thưởng Huân cH kháng chiến Hạng Nhì vì sự nghiệp cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bản thân bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét thấy không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam mà cho bị cáo được hưởng mức án treo và giao bị cáo cho c
H nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ giúp bị cáo cải tạo thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Để giữ nghiêm pháp luật cần phạt tiền đối với bị cáo 10.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
Về các vấn đề khác:
Đối với 02 người nam giới tự khai tên là Nguyễn Trung K, sinh năm 1992 và Nguyễn Xuân L, sinh năm 1996 đều trú tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, là những người mua các số lô, số đề trái phép của H (K mua tổng số tiền là 1.200.000đ; L mua tổng số tiền là 4.500.000đ). Quá trình làm việc tại trụ sở Công an huyện Vĩnh Tường, sau khi trình bày lời khai và viết bản tự khai xong thì K và L xin đi vệ sinh rồi tự ý đi khỏi trụ sở Công an huyện Vĩnh Tường. Qua xác minh tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xác định không có người nào có hộ khẩu thường trú, đăng ký tạm trú trên địa bàn có tên là Nguyễn Trung K, Nguyễn Xuân L có nhân thân, lai lịch như hai người nam giới mua lô đề trái phép của H ngày 29/3/2021 khai báo. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 5.700.000 đồng thu giữ tại mặt bàn trong bếp nơi Ngô Thị H ngồi ghi bán số lô, số đề trái phép, qua điều tra xác định là tiền H bán số lô, số đề trái phép cho hai người nam giới tự khai tên là Nguyễn Trung K và Nguyễn Xuân L mà có nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếc bút bi mực màu xanh H sử dụng vào việc ghi bán các số lô, số đề nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (một) tờ giấy A4 có ghi nhiều số và ký tự gồm: “29/3/2021; 86-50 K; 34-100, 43-100 L, 43-100 K”; 01 tờ lịch, mặt sau có ghi nội dung: “29/3/2021 Lô/34-100, 43-100/” thu tại tay phải của Nguyễn Xuân L và 01 tờ lịch, mặt sau có ghi nội dung: “29/3/2021 Lô/ 86-50; Đề /43-100” thu tại túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Trung K đang mặc. Quá trình điều tra xác định: tờ giấy A4 là bảng kê các số lô, số đề cùng lượng tiền, lượng điểm tương ứng mà H bán được trái phép cho khách trong ngày mục đích đối chiếu thắng thua với khách để chi trả tiền thắng thua; 02 tờ lịch nêu trên là cáp lô đề H đã ghi rồi đưa cho K và L sau khi bán số lô, số đề trái phép cho hai người này nên được lưu hồ sơ vụ án.
. Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Ngô Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Thị H 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự: Phạt tiền đối với bị cáo 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
Về các vấn đề khác: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Đối với 01 (một) tờ giấy A4 có ghi nhiều số và ký tự gồm: “29/3/2021; 86-50 K; 34-100, 43-100 L, 43-100 K”; 01 tờ lịch, mặt sau có ghi nội dung: “29/3/2021 Lô/34-100, 43-100/” thu tại tay phải của Nguyễn Xuân L và 01 tờ lịch, mặt sau có ghi nội dung: “29/3/2021 Lô/ 86-50; Đề /43-100” chuyển kèm theo hồ sơ vụ án, cần được lưu hồ sơ vụ án.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 5.700.000đồng là số tiền H có được do bán số lô, số đề trái phép mà có.
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi mực màu xanh.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 7 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).
Bị cáo Ngô Thị H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Tường; - CA huyện Vĩnh Tường; - THADS huyện Vĩnh Tường; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Lưu HS + VP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Hồng Giang |