- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Đức P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn Th phạm tội “Mua bán trá…"
- Tòa quyết gì? Tu n bố bị cáo Ngô Đức P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Trần Du M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ TỈNH QUẢNG NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2021/HS-ST Ngày: 29 -11- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa Pên tòa: Bà Nông Thúy Chính.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Long.
Ông Phạm Văn Kha.
- Thư ký Pên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại D2 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia Pên tòa: bà Nguyễn Thị Phượng- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Ngô Đức P. Sinh ngà : 26/5/1984 tại thị xã A, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ 5, khu phố 2, phường B, thị xã A, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Dân tộc: Kinh. Giới t nh: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Đức L và bà Trần Thị Q; Vợ Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và 01 con; Tiền án: Tháng 7/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngà 30/4/2021 chấp hành xong hình phạt tù. Tiền sự: Không; Nhân thân: Tháng 8/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngà 25/01/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt ngày 31/8/2021, hiện tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Hải Hà, có mặt.
2. Họ và tên: Phạm Văn T. Sinh ngà : 24/6/1988 tại hu ện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: thôn 4, xã Y, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: thôn X, xã Y, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới t nh: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Q và bà Phạm Thị H; Vợ: Nguyễn Thị L và 01 con. Tiền án: Tháng 6/2018 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, ngà 19/12/2019 chấp hành xong hình phạt tù. Tiền sự: Không; Nhân thân: Tháng 10/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà xử phạt 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; Tháng 3/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà xử phạt 15 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị bắt ngày 30/8/2021, hiện tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Hải Hà, có mặt.
3. Họ và tên: Phạm Văn Th. Sinh ngà : 10/10/1987 tại hu ện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: khu H, thị trấn K, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Con ông Phạm Minh Tường và bà Nguyễn Thị Thúy (đều đã chết). Vợ, con: chưa c ; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 17/3/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị bắt quả tang ngà 27/8/2021, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an hu ện Hải Hà, c mặt.
4. Họ và tên: Trần Duy M. Sinh ngà : 14/9/1995 tại hu ện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: Thôn 2, xã Y, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới t nh: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn L và bà Trần Thị D; Vợ, con: chưa c ; Tiền án: Ngày 28/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngà 30/8/2021, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an hu ện Hải Hà, c mặt.
- Người làm chứng:
+ Chị Ngu ễn Thị L2, sinh ngày 17/10/1995.
Địa chỉ: Thôn S, xã P, hu ện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Đào Văn D2, sinh ngày 22/8/1993.
Địa chỉ: Thôn H, xã P, hu ện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Đỗ Văn T2, sinh ngày 08/9/1989.
Địa chỉ: Thôn Y, xã P, hu ện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Vũ Văn H2, sinh ngày 12/6/1984.
Địa chỉ: Thôn O, xã E, hu ện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Pên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 30 phút ngà 27/8/2021, tại khu vực đường quốc lộ 18A thuộc thôn 6, xã Y, hu ện Hải Hà, tổ công tác Đội CSĐTTP về hình sự, kinh tế, ma tú Công an hu ện Hải Hà phát hiện bắt quả tang Phạm Văn Th có hành vi cất giấu trái phép 01 túi nilon, k ch thước (6,3 3,5 cm b n trong chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma tú . Th khai túí nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma tú đá, do Th mua của Phạm Văn T, sinh năm 1988, trú tại thôn X, xã Y, huyện Hải Hà với giá 500.000 đồng, mua được ma túy, Th mang về sử dụng một phần, số còn lại Th đem bán cho Đào Văn Diện để kiếm lời thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ, thu giữ vật chứng.
Tiếp đến, hồi 17 giờ ngày 30/8/2021 tại thôn 8, xã Y, hu ện Hải Hà, tổ công tác Đội CSĐTTP về hình sự, kinh tế, ma tú Công an hu ện Hải Hà phát hiện bắt quả tang Trần Duy M có hành vi cất giấu trái phép 01 túi nilon b n trong chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1), nghi là ma tú . Mạnh khai mua của Phạm Văn T, sinh năm 1988, trú tại thôn X, xã Y, hu ện Hải Hà vào buổi chiều cùng ngày với giá 400.000 đồng, để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ.
Căn cứ tài liệu điều tra, ngà 30/8/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hà ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn T tại thôn X, xã Y, huyện Hải Hà. Thu giữ của T: 01 túi nilon, k ch thước (05 07 cm, b n trong chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M2), nghi là ma túy, Thắng khai nhận túi nilon b n trong chứa chất tinh thể màu trắng tr n là ma tú đá cất giấu mục đ ch để bán kiếm lời; 01 hộp nhựa hình trụ tròn cao khoảng 19 cm, đường kính khoảng 10 cm, bên trong chứa thực vật khô (kí hiệu M3) nghi là ma túy, T khai để sử dụng. Về nguồn gốc số ma tú , quá trình điều tra làm r ngà 25/8/2021, T mua của Ngô Đức P, sinh năm 1984, trú thôn Thác Bưởi 2, xã Tiên Lãng, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 05 gam ma tú loại Methamphetamine với giá 6.000.000 đồng. Sau đ P g i ma tú trong túi nilon rồi gửi e khách từ Tiên Yên xuống Hải Hà cho T, nhận được ma túy Thắng chu ển khoản trả tiền mua ma túy cho P. Số ma tú mua được của P, Thắng đã chia nh để sử dụng, bán cho Thượng, Mạnh và một số đối tượng không ác định được lai lịch, địa chỉ, số còn lại cất giấu tại nhà mục đ ch để bán kiếm lời và sử dụng.
Ngà 31/8/2021, Cơ quan CSĐT Công an hu ện Hải Hà ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngô Đức P tại thôn Thác Bưởi 2, xã Tiên Lãng, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Thu giữ của P 03 túi nilon c k ch thước khác nhau b n trong đều chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1, M2, M3), nghi là ma túy.Ngô Đức P khai nhận số ma túy bị thu giữ trên và 05 gam ma túy loại Methamphetamine, P bán cho T vào ngày 25/8/2021 là do P mua của một người đàn ông t n Hữu (không rõ lai lịch, địa chỉ) ở thành phố Hải Phòng, 03 túi ma túy P cất giấu tại nơi ở bị Cơ quan điều tra thu giữ, mục đ ch P để sử dụng cho bản thân.
Tại các bản kết luận giám định số 1643 ngà 01/9/2021, số 1675 ngày 05/9/2021, số 1685 ngà 06/9/2021 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh (Bút lục 116, 124, 130) kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng ghi thu giữ của Phạm Văn Th gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,279 gam.
- Chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1) ghi thu giữ của Trần Duy M gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,388 gam; Chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M2) ghi thu giữ của Phạm Văn T gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,394 gam.; Thực vật khô (kí hiệu M3) ghi thu giữ của Phạm Văn T gửi giám định là ma túy, loại Cần sa, khối lượng 40,552 gam.
- Chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1, M2, M3) ghi thu giữ của Ngô Đức P gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: M1: 0,484 gam; M2: 4,376 gam; M3: 4,286 gam. Tổng khối lượng: 9,137 gam.
Các vật chứng gồm:
-Toàn bộ số ma tú hoàn lại sau giám định;
- 01 xe mô tô BKS 14U1-173.85, 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Honor, 01 cân tiểu ly và 208 túi nilon trong suốt thu giữ của Phạm Văn Th;
- 01 hộp bìa giấy, 130 túi nilon, 01 cân tiểu l , 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và 700.000 đồng thu giữ của Phạm Văn T;
-70 túi nilon trong suốt, 01 hộp giấy màu vàng; 01 hộp nhựa màu xanh; 01 điều khiển ti vi màu đen; 01 cân tiểu l ; 03 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, Nokia, Iphone; 01 th căn cước công dân thu giữ của Ngô Đức P.
Chu ển đến Chi cục thi hành án dân sự hu ện Hải Hà bảo quản theo qu định.
Quá trình điều tra cũng như tại Pên tòa Ngô Đức P, Phạm Văn T, Phạm Văn Th, Trần Duy M đã khai nhận hành vi phạm tội như đã n u tr n. (Bút lục số 227, 230, 231, 255, 259, 283, 287, 304, 308 . Tại phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại D2 Viện kiểm sát, thừa nhận việc truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan. Nói lời sau cùng, các bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Những người làm chứng là chị Ngu ễn Thị L2, các anh Đào Văn D2, Đỗ Văn T2, Vũ Văn H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại Pên tòa, tu nhi n đã c lời khai tại cơ quan điều tra, cụ thể như sau:
Chị Nguyễn Thị L2 khai: Quá trình chung sống như vợ chồng với Phạm Văn Th, đến đầu năm 2021, chị thấ Th c các biểu hiện, hành vi li n quan đến việc mua bán trái phép chất ma tú như chuẩn bị các túi nilon nh , khò, bình ga và gặp gỡ với một số đối tượng sử dụng ma tú tại địa phương. Chị c khu n can Th nhưng bị Th chửi bới và dọa đánh n n chị không dám h i và khu n can gì nữa.
Anh Đỗ Văn T2 khai: Khoảng 17 giờ ngà 27/8/2021, tại khu vực Núi Chùa thuộc thôn 6 xã Y, hu ện Hải Hà, anh thấ lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện 01 đối tượng đang ngồi tr n e má , tr n ta phải đang cầm 01 túi nilon b n trong chứa chất tinh thể màu trắng. Người thanh ni n nà khai nhận tên là Phạm Văn Th, số chất tinh thể màu trắng trong túi nilon mà cơ quan Công an thu giữ tr n ta Th là ma tú đá, Th mua từ trước, đang chờ khách đến để bán với giá 200.000đ.
Anh Đào Văn D2 khai: Chiều ngà 27/8/2021, anh gọi điện cho Phạm Văn Th h i mua ma tú đá về sử dụng, Th đồng ý bán cho anh 01 túi ma tú đá với giá 200.000đ và hẹn ra khu vực Núi Chùa ở xã Y để giao dịch. Tu nhi n do anh c việc bận n n không ra đ gặp Th mua ma tú được.
Anh Vũ Văn H2 khai: Chiều ngà 30/8/2021 tại thôn 8 xã E, hu ện Hải Hà, anh thấ lực lượng công an kiểm tra một nam thanh ni n đi e má tr n đường thì thấ tr n ta người nà c 01 túi nilon b n trong chứa chất tinh thể màu trắng. Người thanh ni n nà khai nhận t n là Trần Du M, túi nilon thu giữ trên tay M là ma tú đá, M cất giấu để sử dụng.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSHH ngày 16/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà đã truy tố:bị cáo Ngô Đức P về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qu định tại điểm i khoản 2 Điều 251, điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; bị cáo Phạm Văn T bị tru tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qu định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Phạm Văn Th bị tru tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qu định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Trần Du M bị tru tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qu định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại P n tòa, đại D2 Viện kiểm sát vẫn giữ ngu n quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Điểm i khoản 2 Điều 251, điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Đức P từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội từ 13 năm đến 14 năm tù, thời hạn tù t nh từ ngà bị bắt 31/8/2021.
- Điểm b khoản 2 Điều 251,điểm s khoản 1 Điều 51,điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 07 năm 6 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù t nh từ ngà bị bắt 30/8/2021.
- Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Th từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù t nh từ ngà bị bắt 27/8/2021.
- Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51,điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Du M từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù t nh từ ngà bị bắt 30/8/2021.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Tịch thu ti u hủ : số ma tú hoàn lại sau giám định trong 03 phong bì niêm phong số 1643/KLGĐ ngà 01/9/2021, số 1675/KLGĐ ngà 05/9/2021, số 1685/KLGĐ ngà 06/9/2021, 01 hộp nhựa ni m phong số 782/1675; 03 cân tiểu l , 02 hộp bìa giấ , 01 hộp nhựa màu anh, 01 điều khiển ti vi màu đen, 408 túi nilon trong suốt, 05 sim điện thoại.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Honor màu đen tạm giữ của Phạm Văn Th; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu ghi, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus màu đen tạm giữ của Phạm Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen tạm giữ của Ngô Đức P.
Trả lại cho bị cáo Ngô Đức P 01 điện thoại Samsung màu đen, b n trong gắn 01 sim số 0967.462.083, 01 điện thoại Iphone màu hồng gắn sim số 0862.392.913, 01 căn cước công dân mang tên Ngô Đức P, trả lại bị cáo Phạm Văn T số tiền 700.000đ.
Đối với chiếc e mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đ đen, gắn BKS 14U1-173.85 tạm giữ của bị cáo Phạm Văn Th chưa ác định được nguồn gốc xe nên giao lại cho Công an huyện Hải Hà xử lý theo pháp luật.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Pên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, Kiểm sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại Pên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, qu ết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của người phạm tộicủa các bị cáo: Tại Pên tòacác bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nhau và phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra,đồng thời khẳng định, những lời khai tại cơ quan điều tra là tự nguyện, đúng sự thật, không bị ép cung, mớm cung hoặc nhục hình; kết hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được làm rõ tại Pên tòa, Hội đồng xét xử thấ đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Ngà 25/8/2021, tại xã Y, huyện Hải Hà, Ngô Đức P bán cho Phạm Văn T 05 gam ma túy, loại Methamphetamine với giá 6.000.000 đồng. Ngoài ra, P còn cất giấu 9,137 gam Methamphetamine để sử dụng. Trong các ngày 27/8/2021 và 30/8/2021 tại địa bàn xã Y, hu ện Hải Hà, Phạm Văn T bán cho Phạm Văn Th 0,279 gam ma tú loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng và bán cho Trần Duy M 0,388 gam ma tú loại Methamphetamine với giá 400.000 đồng, ngoài ra, T còn cất giấu tại nhà 1,394 gam ma tú loại Methamphetamine mục đ ch để bán. Ngà 27/8/2021, tại thôn 6, xã Y, huyện Hải Hà, Phạm Văn Th cất giấu 0,279 gam ma tú loại Methamphetamine để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang. Ngày 30/8/2021, tại thôn 8, xã Y, huyện Hải Hà, Trần Duy M cất giấu 0,388 gam ma tú loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi n u tr n của bị cáo Ngô Đức P đã phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qu định tại điểm i khoản 2 Điều 251; điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; Phạm Văn T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qu định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Phạm Văn Th đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qu định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Trần Duy M đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qu định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà đã tru tố là c căn cứ và đúng pháp luật.
Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo Ngô Đức P, Phạm Văn T là rất nghiêm trọng; hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Văn Th, Trần Duy M là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, nó không chỉ hủy hoại sức kh e của người sử dụng mà nó còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, làm mất trật tự trị an trong xã hội, do đ Nhà nước đã độc quyền quản lý các chất ma túy với những qu định rất nghiêm ngặt, mọi hành vi trái phép li n quan đến ma tú đều bị pháp luật trừng trị.Các bị cáo trong vụ án nà đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy; Hành vi của các bị cáo đã thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm, với hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn Th có nhân thân xấu. Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Ngô Đức P, Phạm Văn T, Trần Duy M đều c 01 tiền án chưa được xóa án tích, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo qu định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Ngô Đức P, Phạm Văn T, Phạm Văn Th, Trần Duy M trong quá trình điều tra và tại P n tòa đã “thành hẩn hai báo, n n n h i cải” n n được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qu định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt đối với các bị cáo: Căn cứ vào t nh chất, mức độ ngu hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo kh i xã hội một thời gian dài, xử phạt các bị cáo mức hình phạt như đề nghị của đại D2 Viện Kiểm sát tại Pên tòa mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo bị cáo trở thànhngười có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấ các bị cáo không c việc làm và thu nhập ổn định n n không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về ử lý vật chứng: Đối với số ma tú hoàn lại sau giám định trong 03 phong bì ni m phong số 1643/KLGĐ ngà 01/9/2021, số 1675/KLGĐ ngà 05/9/2021, số 1685/KLGĐ ngà 06/9/2021, 01 hộp nhựa ni m phong số 782/1675 là vật Nhà nước cấm tang trữ, lưu hành; 03 cân tiểu l , 02 hộp bìa giấ , 01 hộp nhựa màu anh, 01 điều khiển ti vi màu đen, 408 túi nilon trong suốt, 05 sim điện thoại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Honor màu đen tạm giữ của Phạm Văn Th; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu ghi, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus màu đen tạm giữ của Phạm Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen tạm giữ của Ngô Đức P, thấy rằng:các bị cáo đã sử dụng những chiếc điện thoại nà để liên lạc trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại Samsung màu đen, gắn 01 sim số 0967.462.083, 01 điện thoại Iphone màu hồng gắn sim số 0862.392.913, 01 căn cước công dân mang tên Ngô Đức P là tài sản và giấy tờ tùy thân của bị cáo Ngô Đức P, số tiền 700.000đ tạm giữ của Phạm Văn T không li n quan đến hành vi phạm tội nên cần trả cho các bị cáo.
Đối với chiếc e mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đ đen, gắn BKS 14U1-173.85 là tài sản phải đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng bị cáo Phạm Văn Th không có giấy tờ đăng ký e, số khung, số má đã bị tẩy xóa nên giao cho Công an huyện Hải Hà xử lý theo qu định của pháp luật.
Liên quan trong vụ án đối với người đàn ông t n Hữu bán ma túy cho P quá trình điều tra không ác định được lai lịch, địa chỉ n n không c căn cứ để xử lý. Đào Văn D2 h i mua ma túy của Th để sử dụng nhưng không mua n n không đề cập ử lý.
Đối với 40,552 gam ma túy loại cần sa,T cất giấu tại nơi ở để sử dụng nhưng lượng không đủ để xử lý hình sự nên Công an huyện Hải Hà đã ra qu ết định xử phạt vi phạm hành chính .
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qu định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tu n bố bị cáo Ngô Đức P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Trần Du M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Đức P 07 (bả ) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 14 (Mười bốn) năm, thời hạn tù t nh từ ngà bị bắt 31/8/2021.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251,điểm s khoản 1 Điều 51,điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 08 (tám) năm tù,thời hạn tù t nh từ ngà bị bắt 30/8/2021.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Th 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù t nh từ ngà bị bắt 27/8/2021.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51,điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Du M 24 (hai mươi bốn) tháng tù,thời hạn tù t nh từ ngà bị bắt 30/8/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Tịch thu ti u hủ : số ma tú hoàn lại sau giám định trong 03 phong bì ni m phong số 1643/KLGĐ ngà 01/9/2021, số 1675/KLGĐ ngà 05/9/2021, số 1685/KLGĐ ngà 06/9/2021, 01 hộp nhựa ni m phong số 782/1675; 03 cân tiểu l , 02 hộp bìa giấ , 01 hộp nhựa màu anh, 01 điều khiển ti vi màu đen, 408 túi nilon trong suốt, 05 sim điện thoại.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Honor màu đen tạm giữ của Phạm Văn Th; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu ghi, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus màu đen tạm giữ của Phạm Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen tạm giữ của Ngô Đức P.
- Trả lại cho bị cáo Ngô Đức P 01 điện thoại Samsung màu đen, b n trong gắn 01 sim số 0967.462.083, 01 điện thoại Iphone màu hồng gắn sim số 0862.392.913, 01 căn cước công dân mang tên Ngô Đức P, trả lại bị cáo Phạm Văn T số tiền 700.000đ, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đ đen, gắn BKS 14U1-173.85cho Công an huyện Hải Hà xử lý theo pháp luật.
(Tất cả vật chứng nêu trên tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản s 10/CCTHADS ngày 22 tháng 11 n m 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hà và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hà).
3. Áp dụngkhoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngà 30/12/2016, qu định về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Ngô Đức P, Phạm Văn T, Phạm Văn Th, Trần Du M, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: các bị cáo có mặt tại Pên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PÊN TÒA Nguyễn Văn Long
Phạm Văn Kha
Nông Thúy Chính
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CAQN; - VKSND huyện Hải Hà; - Công an huyện Hải Hà; - CCTHADS huyện Hải Hà; - Nhà tạm giữ Công an huyện Hải Hà; - Các Bị cáo; - THA, Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PÊN TÒA Nông Thúy Chính |