vanban.org

Bản án 58/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Tuyên án 24/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Kha Văn É và Kha Văn H phạm tội “Huỷ Hoại rừng”.

Xử phạt bị cáo Kha Văn É 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/9/2021. Xử phạt bị cáo Kha Văn H 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/9/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hủy hoại rừng - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Kha Văn É và Kha Văn H phạm tội “Huỷ Hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CON CUÔNG
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2021/HS-ST
Ngày 24 - 9 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Lợi Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Hạnh;

2. Ông Đào Xuân Thanh;

- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Kha Văn É - Sinh ngày 19 tháng 8 năm 1978 tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: bản X, xã Bình Ch, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: thái; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Kha Văn D, sinh năm 1949 và bà Lô Thị D, sinh năm 1956; Vợ: Lô Thị H, sinh năm 1978 và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: năm 2016 bị TAND huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử phạt 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong hình phạt ngày 07/6/2016; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/4/2021 đến ngày 24/6/2021 thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Kha Văn H - Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1973 tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: bản Nà C, xã Bình Ch, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: thái; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Kha Văn Ph và bà Kha Thị Ph (đều đã chết); Vợ: Chương Thị V, sinh năm 1974 và 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/4/2021 đến ngày 24/6/2021 thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Kha Văn N, sinh năm 1962. Vắng mặt.

Địa chỉ: Bản Nà C, xã Bình Ch, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

- Người liên quan:

1. Bà Kha Thị D, sinh năm 1961. Vắng mặt.

2. Bà Vi Thị X, sinh năm 1963. Vắng mặt.

3. Bà Lương Thị S, sinh năm 1967. Vắng mặt.

4. Bà Lương Thị L, sinh năm 1963. Vắng mặt.

5. Bà Chương Thị L, sinh năm 1966. Vắng mặt.

6. Chị Kha Thị Th, tên gọi khác: Èn, sinh năm 1971. Vắng mặt.

7. Chị Kha Thị Ph, sinh năm 1981. Vắng mặt.

8. Chị Vi Thị Th, sinh năm 1991. Vắng mặt.

9. Chị Chương Thị V, sinh năm 1974. Có mặt.

10. Chị Vi Thị Đ, sinh năm 1998. Vắng mặt.

11. Chị Vi Thị B, sinh năm 1980. Vắng mặt.

12. Ông Lô Văn M, sinh năm 1961. Vắng mặt.

Đều có địa chỉ: Bản Nà C, xã Bình Ch, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 12/2006, hộ gia đình ông Kha Văn N trú tại bản Tung Poọng (nay là bản Nà C), xã Bình Ch, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An được Ủy ban nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An giao quyền sử dụng thửa đất số 292 thuộc khoảnh 10 tiểu khu 734 (Giao đất theo Nghị định 163/199/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính Phủ) với diện tích 125.707m2 thuộc loại rừng sản xuất tại khu vực Khe X, thuộc bản Nà C, xã Bình Ch, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Từ năm 2013, thửa đất trên được bán trái phép qua nhiều người, đến năm 2019 Kha Văn É mua lại thửa đất trên. Đến tháng 01/2021, mặc dù biết được thửa đất rừng mình mua không được chặt phá, khai thác khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa cho phép, nhưng É vẫn thuê Kha Văn H tìm người chặt phá khu rừng nói trên để trồng cây Keo, với mục đích để phát triển kinh tế.

Sau khi được É thuê, H đã thuê các chị Kha Thị Ph, Kha Thị D, Vi Thị X, Vi Thị Th, Lương Thị L, Chương Thị V, Vi Thị Đ, Chương Thị L, Lương Thị S, Kha Thị Th (Èn), Vi Thị B và ông Lô Văn M (tất cả đều trú tại bản Nà C, xã Bình Ch, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An) đi chặt phá rừng với giá một ngày công là 170.000 đồng. Khoảng đầu tháng 01/2021 H gọi những người đã thuê bắt đầu đi chặt phá rừng. Đến ngày 18/01/2021, khi một số người do H thuê đang chặt phá tại khu rừng nói trên thì bị lực lượng chức năng phát hiện nên đã bỏ chạy.

Ngày 03/02/2021, đoàn kiểm tra liên ngành (do Ủy ban nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An thành lập) đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, vẽ sơ đồ, xác định hiện trạng rừng bị chặt phá đã xác định: Khu vực rừng bị chặt phá tại các lô 69, 72, 73, 78 khoảnh 10, tiểu khu 734 thửa đất 292 diện tích bị chặt phá là 64.300m2, thuộc rừng nứa tự nhiên núi đất; loại rừng sản xuất.

Tại Biên bản “Thống nhất kết quả xác định hiện trạng rừng bị chặt phá tại xã Bình Ch, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” ngày 17/3/2021của các cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An và huyện Con Cuông xác định:Các lô 69, 72, 73, 78 khoảnh 10, tiểu khu 734, chủ quản lý: ông Kha Văn N và bà Vi Thị Phường, trú tại bản Nà C, xã Bình Ch, huyện Con Cuông theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 471816 ngày 04/12/2006 của UBND huyện Con Cuông (Thửa đất số 292) diện tích rừng bị chặt phá: 64.300 m2; loại rừng: Rừng sản xuất; trạng thái rừng: Rừng nứa tự nhiên núi đất.

Ngày 04/3/2021, sau khi biết hành vi thuê người chặt phá rừng trái phép của mình bị phát hiện, É đã đến Công an huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đầu thú.

Quá trình điều tra cũng đã xác định được các đối tượng tham gia chặt phá rừng nói trên không ai tham gia toàn bộ từ đầu đến cuối mà mỗi người chỉ tham gia từ 02 đến 03 ngày.

Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ 10 con Dao của Kha Văn H, Vi Thị Đ, Lương Thị L, Chương Thị L, Lô Văn M, Vi Thị X, Kha Thị Th (Èn), Kha Thị Ph, Vi Thị Th, Chương Thị V dùng để chặt phá rừng trái phép (có bảng kê chi tiết kèm theo). Hiện số Dao này đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Còn đối với các con Dao của chị Kha Thị D, Lương Thị S và Vi Thị B dùng để chặt phá rừng họ đã làm mất nên không thu giữ được.

Cáo trạng số: 66/CT-VKS-CC ngày 24/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông đã truy tố các bị cáo bị cáo Kha Văn É và Kha Văn H về tội "Huỷ hoại rừng" theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 243 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Bản thân các bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố các bị cáo Kha Văn É và Kha Văn H phạm tội “Huỷ hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 243 của Bộ luật hình sự; Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 243, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Kha Văn É 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 05 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; xử phạt bị cáo Kha Văn H 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 05 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo; Tịch thu tiêu huỷ số vật chứng của vụ án; Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

- Trong quá trình điều tra: Cơ quan điều tra, Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.

- Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Kha Văn É và Kha Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 01 năm 2021 đến ngày 18 tháng 01 năn 2021 Kha Văn É thuê Kha Văn H sau đó H mặc dầu biết được thửa đất rừng mình thuê không được chặt phá, khai thác khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa cho phép nhưng H đã thuê một số người dân ở bản Nà C, xã Bình Ch, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An chặt phá trái phép 64.300 m2 Rừng sản xuất” tại các lô 69, 72, 73, 78 thửa đất số 292, khoảnh 10 tiểu khu 734 thuộc khu vực Khe X, bản Nà C, xã Bình Ch, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Với mục đích để trồng cây keo phát triển kinh tế. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, diện tích bị chặt phá trên 50.000 m2. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết tội các bị cáo É và H phạm tội “Huỷ hoại rừng” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 243 của Bộ luật hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, có nhiều bị cáo cùng tham gia nhưng không có sự bàn bạc phân công thực hiện tội phạm, sự liên kết trong các hành vi của các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn, không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm rất lớn cho xã hội, không những xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản mà còn gây mất trật tự an ninh ở địa phương, làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái gây nên tình trạng hạn hán, lũ lụt, vì vậy cần phải xử lý nghiêm các bị cáo để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Kha Văn É là người đã thuê Kha Văn H chặt phán rừng để trồng cay keo phát triển kinh tế gia đình. Bị cáo H sau khi được É thuê thì đồng ý, mặc dầu H biết được đất rừng mình được thuê không được chặt phá, khai thác khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa cho phép nhưng bị cáo vẫn thuê một số người dân trên địa bàn xã Bình Ch để thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy trong vụ án này, bị cáo É là người phải chịu trách nhiệm chính, bị cáo H đồng phạm với vai trò là người thực hành tích cực nên bị cáo cũng phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; Bị cáo É đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm cung cấp nhiều thông tin quan trọng để triệt phá vụ án vận chuyển trái phép pháo nổ xẩy ra trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An vào ngày 06/01/2021, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất; Bị cáo H đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm cung cấp nhiều thông tin quan trọng để triệt phá vụ án Mua bán trái phép chất ma tuý xẩy ra trên địa bàn huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu bắt đối tượng Sùng A Kh vào ngày 25/01/2021, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo có nhiều thành tích trong công tác hội nông dân và công tác phòng chống cháy rừng được Uỷ ban nhân dân xã Bình Ch tặng nhiều giấy khen, được Trung ương hội nông dân Việt Nam tặng Kỷ niệm chương vì vậy cần giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Như vậy, xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo, xử phạt bị cáo theo khung hình phạt liền kề nhẹ hơn, đồng thời áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và chịu sự giám sát của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú, qua đó cũng đủ để các bị cáo có cơ hội trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 243 của Bộ luật hình sự các bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là hình phạt tiền nhưng xét thấy các bị cáo bị cáo đều làm nghề trồng trọt, sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tài sản không có nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.

Trong vụ án này bị cáo Kha Văn H còn thuê chị Kha Thị Ph, Kha Thị D, Vi Thị X, Vi Thị Th, Lương Thị L, Chương Thị V, Vi Thị Đ, Chương Thị L, Lương Thị S, Kha Thị Th (Èn), Vi Thị B và anh Lô Văn M chặt phá rừng, xét thấy những người này đều là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Họ không biết được nguồn gốc diện tích rừng mình được thuê chặt phá, mục đích làm công lấy tiền nuôi sống bản thân và gia đình, không nhằm mục đích huỷ hoại rừng nên Cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện Con Cuông không xử lý hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Về vật chứng: 10 con dao của các đối tượng tham gia chặt, phát rừng là những vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 243; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Kha Văn É và Kha Văn H phạm tội “Huỷ Hoại rừng”.

Xử phạt bị cáo Kha Văn É 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/9/2021.

Xử phạt bị cáo Kha Văn H 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/9/2021.

Giao các bị cáo Kha Văn É và Kha Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Bình Ch, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 94 của Luật thi hành án hình sự và Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy:

01 con dao dài 45,1cm, có cán dao làm bằng gỗ, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 25,8cm, nơi rộng nhất 6,6cm, nơi hẹp nhất 3cm, trên đầu lưỡi dao có vết sứt mẻ dài 5x1,5cm. Giữa cán vào lưỡi dao có khấu dao bằng kim loại màu xám.

01 con dao dài 45,1cm, có cán dao làm bằng gỗ, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 25,8cm, nơi rộng nhất 6,6cm, nơi hẹp nhất 3cm, trên đầu lưỡi dao có vết sứt mẻ dài 5x1,5cm. Giữa cán vào lưỡi dao có khấu dao bằng kim loại màu xám.

01 con dao dài 45,5cm, có cán dao làm bằng gỗ, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 25,7cm, nơi rộng nhất 6,3cm, nơi hẹp nhất 2,8cm. Giữa cán vào lưỡi dao có khấu dao bằng kim loại màu xám dài 2,2cm.

01 con dao dài 48cm, có cán dao làm bằng gỗ, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 29cm, nơi rộng nhất 9cm, nơi hẹp nhất 3cm, trên có in dòng chữ VHƯNG. Giữa cán vào lưỡi dao có khấu dao bằng kim loại màu xám dài 1,5cm.

01 con dao dài 44,5cm, có cán dao làm bằng gỗ, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 28,7cm, nơi rộng nhất 5,8cm. Giữa cán vào lưỡi dao có khấu dao bằng kim loại màu xám dài 2,6cm.

01 con dao dài 50,8cm, có cán dao làm bằng gỗ, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 29,7cm. Giữa cán vào lưỡi dao có khấu dao bằng kim loại màu xám dài 3cm.

01 con dao dài 45cm, có cán dao làm bằng gỗ, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 17cm, nơi rộng nhất 7,1cm, nơi hẹp nhất 2,8cm, trên lưỡi dao có vết nứt dài 8,1cm, trên có in dòng chữ KIỆM KN. Giữa cán vào lưỡi dao có khấu dao bằng kim loại màu nâu dài 3cm.

01 con dao dài 44,5cm, có cán dao làm bằng gỗ, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 25,5cm, nơi rộng nhất 6,5cm. Giữa cán vào lưỡi dao có khấu dao bằng kim loại màu xám.

01 con dao dài 45cm, có cán dao làm bằng gỗ, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 25cm, nơi rộng nhất 6cm. Giữa cán vào lưỡi dao có khấu dao bằng kim loại.

01 con dao dài 45cm, có cán dao làm bằng gỗ, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 25,5cm, nơi rộng nhất 5,5cm, nơi hẹp nhất 2,5cm. Giữa cán vào lưỡi dao có khấu dao bằng kim loại màu nâu dài 2,5cm.

Toàn bộ vật chứng nêu trên có đặc điểm được ghi tại Biên bản giao nhận vật chứng số 63 ngày 25/8/2021 giữa Công an huyện Con Cuông và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Kha Văn É và Kha Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Phan Hồng Lợi

Cỡ chữ