- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế C - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế C; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2021/HS-ST ngày 13/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 323 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2021/HS-PT Ngày 29 - 7 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Quang Hùng.
Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Mạnh và bà Nguyễn Thị Thu Hà.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Văn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2021/HS-PT ngày 18/5/2021 đối với bị cáo Nguyễn Thế C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2021/HS-ST ngày 13/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thế C, sinh ngày 21 tháng 02 năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã Xuân Hoà, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị L; vợ Nguyễn Thị H và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/12/2020 đến ngày 08/02/2021 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt).
Ngoài ra còn có bị cáo khác, bị hại nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 21/12/2020, Đào Văn T trú tại tổ dân phố T, thị trấn H, huyện L đi xe khách từ nhà đến ngã tư Quán Tiên thuộc phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên rồi lên xe buýt đến thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường mục đích xem ai có xe môtô để sơ hở thì trộm cắp. Khi đi T mang theo 01 bộ vam phá mở ổ khóa điện xe môtô và 01 mũi vam cất ở trong ví. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, T đi đến đoạn đường 304 thuộc tổ dân phố P thị trấn Thổ Tang, T quan sát thấy trước cửa hàng sửa chữa xe máy H của gia đình bà Vũ Thị Hồng Hở tổ dân phố P, thị trấn T đối diện với đám cưới của gia đình bà Bùi Thị Giáng H trú cùng tổ dân phố có để nhiều xe môtô. Trong đó có chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda loại xe Wave, màu sơn đỏ-đen không gắn biển kiểm soát của ông Đỗ Văn T trú tại tổ dân phố P, thị trấn T để tại đây không có ai trông giữ, nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe môtô này. T đi đến ngồi lên yên xe rồi lấy bộ vam phá khóa từ túi quần đúc mũi vam vào ổ khóa điện của xe môtô, dùng hai tay vặn mạnh vam theo chiều kim đồng hồ thì phá mở được ổ khóa điện của chiếc xe này. Sau đó, T cất vam phá khóa vào túi quần dắt lùi xe quay đầu lại và đề nổ rồi điều khiển xe đi qua đường tỉnh lộ 304 vào đường ngõ giáp với nhà ông Tuấn. Khi T vừa điều khiển chiếc xe môtô trên đi được khoảng 11m thì bị Công an huyện Vĩnh Tường phát hiện bắt quả tang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, khám nghiệm hiện trường thu giữ gồm:
Một chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu sơn đỏ đen, số khung RLH5A3910KY178283, số máy JA39E1036013, xe không có gương chiếu hậu, không gắn biển kiểm soát do T vừa trộm cắp được của ông Tuấn.
Kiểm tra, tạm giữ trên người Đào Văn T 01 bộ vam phá khóa xe môtô bằng kim loại gồm 3 bộ phận thân vam, mũi vam và tay vam. T khai nhận đây là bộ vam T vừa dùng để phá mở ổ khóa điện chiếc xe môtô trên.
Một chiếc ví giả da màu nâu, bên trong ví có 40.000đồng và 01 mũi vam bằng kim loại; 01 đôi găng tay len màu đen có hoa văn màu trắng hồng; 01 chiếc khẩu trang vải màu xanh đen vàng trắng đỏ, có quai đeo màu trắng; 01 chiếc mũ lưỡi trai màu đen có chữ adidas và kẻ trắng; 01 chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Masstel, loại C105i màu vàng nhạt, số IMEI1863220023954316, IMEI 2 863220023954324, bên trong có gắn 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao xxxx.xxx.xxx.
Ngày 22/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công huyện Vĩnh Tường ra Yêu cầu định giá tài sản số 07 gửi Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Tường đề nghị định giá xác định giá trị của chiếc xe môtô T trộm cắp của ông Đỗ Văn Tuấn. Cùng ngày, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Tường đã kết luận giá trị của chiếc xe môtô trên là 14.000.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Đào Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp chiếc xe môtô của ông Đỗ Văn Tuấn như nêu trên. Đồng thời, T còn khai nhận vào các ngày 02/12/2020, 07/12/2020, 11/12/2020, 17/12/2020 T đã thực hiện 04 vụ trộm cắp xe môtô khác trên địa bàn thị trấn T, huyện Vĩnh Tường sau đó đã bán những chiếc xe môtô trộm cắp được cho Bùi Văn T1 và Nguyễn Thế C, cụ thể như sau:
Vụ 1: Trưa ngày 02/12/2020, Đào Văn T đi xe ô tô khách từ nhà đến ngã tư Quán Tiên thuộc phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên rồi đi xe buýt tuyến số 01 đến bến xe Vĩnh Tường ở xã Tân Tiến, huyện Vĩnh Tường thì xuống xe đi bộ vào thị trấn Thổ Tang mục đích trộm cắp tài sản. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, T đi bộ dọc tuyến đường tỉnh lộ 304 qua cổng chợ Giang thị trấn Thổ Tang ra hướng đường Quốc lộ 2A. Khi đi đến đầu ngõ trước nhà anh Nguyễn Đăng Dũng ở tổ dân phố B, thị trấn T, T quan sát thấy trên vỉa hè trước cửa nhà anh Dũng có để 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda loại Dream, màu sơn nâu biển kiểm soát 88L1-126.40 của anh Dũng nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. T quan sát không thấy ai chú ý đến mình nên đi đến vị trí chiếc xe môtô rồi lấy bộ vam phá khóa từ túi quần đang mặc, đúc mũi vam vào ổ khóa điện của xe môtô vặn mạnh theo chiều kim đồng hồ thì mở được ổ khóa điện. T ngồi lên xe, lùi xe ra giữa đường quay đầu xe hướng về tỉnh lộ 304 và đề nổ máy, phóng xe tẩu thoát theo hướng đi thành phố Vĩnh Yên. Trên đường đi T gọi điện thoại cho Nguyễn Thế C trú tại xã X, huyện L nói cho C biết T vừa trộm cắp được 01 chiếc xe môtô và hỏi C có mua không, thì C đồng ý mua xe và bảo T đem xe đến nhà của C để giao dịch mua bán. Ngay sau đó, T điều khiển chiếc xe môtô trên đến nhà C, C kiểm tra xe thấy ổ khóa bị phá hỏng không có chìa khóa, không có giấy tờ xe và được T nói rõ là xe vừa trộm cắp được mà có, nhưng vì ham rẻ nên C đồng ý mua xe và trả giá 2.000.000đồng. T đồng ý bán, nhận đủ tiền C đưa rồi giao xe lại cho C, T đi về và sử dụng số tiền này mua ma túy và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua xe của T xong, do có việc cần tiền gấp nên sáng ngày 03/12/2020 C đã bán lại chiếc xe môtô trên cho một người nam giới thu mua sắt vụn (đi qua cổng nhà C) với giá 1.000.000 đồng, C không biết người này là ai và không nói cho người nam giới này biết chiếc xe môtô là xe do trộm cắp mà có.
Vụ 2: Sáng ngày 07/12/2020, Đào Văn T đi xe ôtô khách từ nhà đến ngã tư Quán Tiên thuộc phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên rồi đi xe buýt tuyến số 01 đến ngã tư Tân Tiến trên Quốc lộ 2A trước bến xe Vĩnh Tường thì T xuống xe, đi bộ theo đường tỉnh lộ 304 vào thị trấn Thổ Tang mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi đến cổng trường Trung học cơ sở Thổ Tang thuộc tổ dân phố Nam Cường T quan sát thấy tại ngõ đối diện cổng trường có để nhiều xe môtô nhưng không có ai trông giữ. Trong đó có 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave, màu sơn đỏ đen biển kiểm soát 88H8- 4394 của anh Nguyễn Văn Mạnh trú tại tổ dân phố Nam Cường thị trấn T, T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe môtô này. Sau đó, T đi đến bên trái chiếc xe môtô ngồi lên yên xe, lấy bộ vam phá khóa từ trong túi quần ra đúc mũi vam vào ổ khóa điện của xe môtô rồi vặn mạnh theo chiều kim đồng hồ thì mở được ổ khóa điện. Lúc này, do có người dân đi qua nên T dùng tay trái cầm điện thoại giả vờ đi xung quanh đó nghe điện thoại. Sau khi thấy không có người qua lại nữa thì T vừa giả vờ nghe điện thoại vừa đi đến vị trí xe môtô rồi ngồi lên yên xe, đề nổ máy và phóng xe chạy thẳng vào trong ngõ để tẩu thoát. T điều khiển xe môtô đi đến khu vực ao tròn thị trấn Thổ Tang thì gọi điện thoại cho Bùi Văn T1 trú tại xã B, huyện Y nói cho T1 biết là T vừa trộm cắp được chiếc xe môtô và hỏi T1 có mua không thì T1 đồng ý mua và hẹn T đem xe đến lán xây dựng nơi T1 đang làm tại khu phố Mới thị trấn Thổ Tang để giao dịch mua bán xe. Khoảng hơn 11 giờ cùng ngày, T điều khiển chiếc xe môtô trộm cắp được đến gặp T1, sau khi xem chiếc xe môtô thấy xe bị phá ổ khóa điện, mặc dù biết là xe do T trộm cắp mà có nhưng do ham rẻ nên T1 vẫn mua chiếc xe môtô này với số tiền 1.700.000đồng. Tuy nhiên, do lúc đó T1 không có đủ tiền nên trả trước cho T 1.500.000đồng và nợ lại 200.000đồng, T đã sử dụng số tiền này để mua ma túy và tiêu xài cá nhân. Sau khi mua được xe môtô do T trộm cắp được mà có thì T1 điều khiển chiếc xe này về phòng trọ của mình tại phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên. Trên đường đi T1 đã tháo chiếc biển kiểm soát của xe vứt ở dệ đường (T1 không nhớ được địa điểm vứt biển số). Khoảng một tuần sau khi T1 đang ở phòng trọ thì có anh Nguyễn Văn Cường (bạn T1) trú tại thôn X, xã X, huyện L đến chơi. Do anh Cường không có xe để đi lại nên có hỏi T1 cho mượn chiếc xe môtô trên, T1 đồng ý và giao cho Cường chiếc xe môtô không nói cho Cường biết chiếc xe này là xe Cường mua của T do trộm cắp mà có. Sau đó, anh Cường điều khiển chiếc xe môtô này ra về và sử dụng cho đến nay chưa trả lại cho T1. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập anh Nguyễn Văn Cường nhiều lần để làm rõ nội dung T1 khai trên nhưng anh Cường vắng mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì nên chưa tiến hành làm việc được.
Vụ 3: Sáng ngày 11/12/2020, Đào Văn T đi xe ôtô khách đi từ nhà đến ngã tư Quán Tiên thuộc phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên rồi đi xe buýt tuyến số 01 đến ngã tư Tân Tiến trên Quốc lộ 2A trước bến xe Vĩnh Tường thì T xuống xe, đi bộ theo đường tỉnh lộ 304 vào thị trấn Thổ Tang mục đích xem nhà nào có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khi T đi đến công trình đang xây dựng nhà ở của anh Đỗ Văn Quang, thuộc TDP B, thị trấn T thì nhìn thấy trên vỉa hè trước nhà kho Nam Loan giáp công trình xây dựng trên có để chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream màu sơn nâu biển kiểm soát 88L1- 006.73 của bà Chu Thị V trú tại thôn 1, xã V, huyện Vĩnh Tường cùng nhiều xe môtô khác nhưng không có người trông giữ, nên T nảy sinh ý định trộm cắp xe môtô này. T đi đến chiếc xe Wave alpha màu đỏ đen dựng bên phải cạnh xe môtô biển kiểm soát 88L1- 006.73, ngồi lên yên xe để quan sát khoảng 10 phút. Sau thấy không có ai để ý thì T đến bên trái chiếc xe môtô trên lấy ra 01 chiếc vam phá khóa ở trong túi quần đang mặc, do T đem theo người từ trước cắm vào ổ khóa điện của xe môtô dùng tay vặn mạnh vam theo chiều kim đồng hồ thì mở được ổ khóa điện. T dắt lùi xe ra phía sau khoảng 02 mét thì thấy có người dân đi qua nên T dựng xe ở đó giả vờ nghe điện thoại và đi đến vị trí xe Wave alpha tiếp tục đứng quan sát xung quanh rồi đi ra phía ngoài đường để quan sát lần nữa. Sau thấy không có người qua lại T đi đến bên trái xe môtô dùng tay trái cầm tay lái trái, tay phải cầm giá để hàng ở đuôi xe lùi xe ra sát lề đường rồi dùng chân chống phụ để quay xe từ trái qua phải ra hướng đường, ngồi lên yên xe đề nổ máy và điều khiển xe đi theo đường tỉnh lộ 304 ra Quốc lộ 2A rồi lên đê Trung ương qua cầu Phú Hậu đến gầm cầu cao tốc (nút giao Văn Quán, huyện Lập Thạch). Tại đây, T gọi điện thoại cho Bùi Văn T1 nói cho T1 biết là T vừa trộm cắp được 01 chiếc xe mô tô và hỏi T1 có mua không, thì T1 đồng ý mua và hẹn T đem xe đến thành phố Vĩnh Yên gặp T1. Tuy nhiên, do T đang ở huyện L nên T1 và T hẹn nhau đến dốc Kèo Cài thuộc địa phận xã Ngọc Mỹ, huyện L để giao dịch mua bán xe. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius biển kiểm soát 88C1- 055.10 đến dốc Kèo Cài gặp T. Khi gặp nhau, mặc dù biết xe môtô trên do T trộm cắp mà có nhưng do ham rẻ nên T1 đồng ý mua chiếc xe môtô này với giá 2.000.000đồng. Sau khi đưa đủ tiền cho T thì T1 điều khiển chiếc xe và nhờ T điều khiển chiếc xe môtô mà T1 vừa mua của T đi cùng T1 đến nhà anh Nguyễn Mạnh H (người quen của T1) trú tại thôn X, xã X, huyện L để T1 gửi chiếc xe môtô biển kiểm soát 88C1-055.10. Khi đến nhà anh H, T để chiếc xe môtô trên ở phía trước cổng nhà anh H, giao lại xe cho T1 rồi T đi về nhà, T sử dụng số tiền bán xe trên mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi gửi chiếc xe môtô biển kiểm soát 88C1- 055.10 tại nhà anh H thì T1 điều khiển chiếc xe môtô biển kiểm soát 88L1- 006.73 đi về phòng trọ của T1 tại phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên. Trên đường đi, khi đến địa phận thị trấn L thì T1 xuống xe, đỗ xe bên đường và tháo chiếc biển kiểm soát 88L1- 006.73 của xe môtô vứt xuống mương nước dệ đường (T1 không nhớ địa điểm vứt chiếc biển kiểm soát). Sau đó, T1 đi vào một quán thu mua sắt vụn dọc đường xin được chiếc biển kiểm soát 19K2- 0013 và lắp vào biển kiểm soát vừa tháo bỏ của chiếc xe môtô rồi điều khiển xe đi về phòng trọ. Khi về đến nơi T1 gọi điện thoại cho Nguyễn Thế C nói cho C biết T1 vừa mua được 01 chiếc xe môtô do T trộm cắp mà có và hỏi C có mua xe không thì C đồng ý mua, nên T1 bảo C đi đến phòng trọ của T1 tại thành phố Vĩnh Yên để xem xe. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, C đi từ nhà tại xã X, huyện L đến phòng trọ của T1, đến nơi C thấy T1 đang ở phòng trọ, T1 chỉ cho C chiếc xe môtô gắn biển kiểm soát 19K2- 0013 ở trong phòng trọ để C đến xem xe. Mặc dù biết là xe môtô này do T1 vừa mua của T do T trộm cắp mà có, nhưng vì ham rẻ nên C vẫn đồng ý mua chiếc xe môtô trên của T1 với giá 2.000.000đồng. C trả tiền cho T1 rồi điều khiển xe về nhà sử dụng đi lại, ngày 21/12/2020 C đã giao nộp chiếc xe môtô này cho Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Tường để giải quyết theo quy định.
Vụ 4: Sáng ngày 17/12/2020, Đào Văn T đi xe khách từ nhà đến thị trấn T, huyện Vĩnh Tường xem ai có xe môtô để sơ hở thì trộm cắp. Khi đi, T mang theo 01 bộ vam phá khóa bằng kim loại để ở túi quần bên phải đang mặc. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T đi bộ dọc theo đường tỉnh lộ 304 (hướng từ Bến xe Vĩnh Tường ở Quốc lộ 2A về phía chợ Giang). Khi T đi vào trong ngõ đường Nguyễn Thị Đvà rẽ phải thuộc tổ dân phố Lá Sen thị trấn T, T quan sát thấy bên trong sân nhà anh Lê Văn P trú tại thôn Lá Sen thị trấn T có để 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream màu sơn nâu biển kiểm soát 88L1- 141.82, cổng nhà đóng khép nhưng không khóa nên T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe môtô này. T đi đến kéo cổng sang phải, đi vào trong sân gọi “Cô ơi” nhưng không có ai trả lời nên T đi đến chiếc xe môtô và thấy chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện xe. T dùng tay trái cầm vào tay lái bên trái, tay phải cầm vào giá để hàng phía đuôi xe rồi dắt lùi xe ra sau khoảng 01 mét, quay đầu xe, gạt chân chống phụ rồi dắt xe ra phía cổng. Sau đó, T ngồi lên yên xe đề nổ máy và điều khiển xe chạy ra hướng tỉnh lộ 304, đi ra Quốc lộ 2A rồi đi theo hướng về thành phố Vĩnh Yên. Trên đường đi T gọi điện thoại cho Bùi Văn T1 nói cho T1 biết việc T vừa trộm cắp được chiếc xe môtô và hỏi T1 có mua xe không, T1 đồng ý và bảo T mang xe đến phòng trọ của T1 ở số 6 ngõ 7 đường Nguyễn Tất Thành, phường Khai Quang thành phố Vĩnh Yên để mua bán xe. Sau đó, T điều khiển chiếc xe đi đến phòng trọ của T1 hai bên thống nhất mua bán xe với giá 2.000.000 đồng, T nhận tiền và giao xe cùng chìa khóa xe cho T1 rồi đi về. T đã dùng số tiền này mua ma túy và tiêu xài cá nhân hết. Sáng ngày 18/12/2020, T1 điều khiển chiếc xe môtô mua của T đi huyện L, trên đường đi T1 đã tháo chiếc biển kiểm soát của xe môtô vứt ở dệ đường đi (T1 không nhớ rõ địa điểm). Đến tối cùng ngày T1 điều khiển chiếc xe môtô này đi về phòng trọ tại phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên và để xe tại đây. Ngày 22/12/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã tiến hành thu giữ chiếc xe môtô trên tại phòng trọ của T1 để phục vụ công tác điều tra vụ án.
Ngoài ra, Đào Văn T còn khai nhận ngày 07/11/2020 T trộm cắp được 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream màu sơn nâu, biển kiểm soát 88F1- 6885 tại phường Tứ Liên, quận Tây Hồ thành phố Hà Nội. Sau khi trộm cắp được chiếc xe môtô trên, T đã bán cho C với giá 2.500.000đồng và nói rõ cho C biết là xe do T trộm cắp được mà có. T đã sử dụng số tiền bán xe mô tô trên vào việc mua ma túy để sử dụng cho bản thân và tiêu xài cá nhân hết. Ngày 22/12/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã thu giữ chiếc xe môtô trên tại nhà anh Lục Văn C trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trên cơ sở trưng cầu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường:
Ngày 22/12/2020, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Tường đã kết luận giá trị chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu sơn nâu, số khung 0808AY076444, số máy HA08E1376479 mà T trộm cắp của bà Chu Thị V ngày 11/12/2020 là 18.000.000 đồng.
Ngày 25/01/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Tường đã xác định giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu sơn nâu biển kiểm soát 19K2- 0013 do T trộm cắp của anh Lê Văn P 17/12/2020 là 18.000.000 đồng.
Ngày 28/01/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Tường đã xác định giá trị chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 88H8-4394 do T trộm cắp của anh Nguyễn Văn Mạnh ngày 07/12/2020 là 5.000.000đồng.
Ngày 25/01/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Tường đã xác định giá trị của chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, số loại Dream, màu sơn nâu biển kiểm soát 88L1-126.40 do T trộm cắp của anh Nguyễn Đăng Dũng ngày 02/12/2020 là 4.949.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2021/HS-ST ngày 13/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thế C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 22 tháng 12 năm 2020 đến ngày 08 tháng 02 năm 2021.
Ngoài ra, bản án còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo đồng phạm khác, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo đối với các bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/4/2021, bị cáo Nguyễn Thế C kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thế C sửa đổi kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm số 28/2021/HS-ST ngày 13/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 04 tháng đến 06 tháng, phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế C làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bị cáo cũng như bị cáo Nguyễn Thế C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp nhau; phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà sơ thẩm và phiên toà phúc thẩm.
Như vậy có đủ căn cứ để xác định, trong khoảng thời gian từ ngày 02/12/2020 đến ngày 21/12/2020, Đào Văn T đã thực hiện 05 vụ trộm cắp cắp tài sản trên địa bàn xã Vĩnh Sơn và thị trấn T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 05 xe mô tô có trị giá là 59.949.000đ, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Ngày 02/12/2020 T trộm cắp được 01 chiếc xe môtô Honda Dream BKS 88L1-126.40 trị giá 4.949.000đ của anh Nguyễn Đăng Dũng trú tại thị trấn T rồi bán cho Nguyễn Thế C được 2.000.00đồng.
Vụ thứ hai: Ngày 07/12/2020 T trộm cắp được 01 chiếc xe môtô Honda Wave BKS 88H8-4394 trị giá 5.000.000đ của anh Nguyễn Văn Mạnh rồi bán cho Bùi Văn T1 được 1.500.000đồng.
Vụ thứ ba: Ngày 11/12/2020 T trộm cắp được 01 chiếc xe môtô Honda Dream BKS 88L1-006.73 trị giá 18.000.000đ của bà Chu Thị V rồi bán cho Bùi Văn T1 được 2.000.00đ sau đó T1 bán lại chiếc xe này cho C với giá 2.000.000đ.
Vụ thứ tư: Ngày 17/12/2020 T trộm cắp được 01 chiếc xe môtô Honda Dream BKS 88L1- 141.82 trị giá 18.000.000đ của anh Lê Văn P rồi bán cho Bùi Văn T1 được 2.000.00 đồng.
Vụ thứ năm: Ngày 21/12/2020, T đã trộm cắp 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu sơn đỏ đen (chưa có biển kiểm soát) trị giá 14.000.000đ của ông Đỗ Văn Tuấn. Khi T vừa điều khiển chiếc xe môtô trên đi được khoảng 11m thì bị Công an huyện Vĩnh Tường phát hiện bắt quả tang.
Bùi Văn T1 và Nguyễn Thế C không hứa hẹn trước, biết rõ những xe mô tô trên là do T trộm cắp mà có nhưng vẫn mua, tiêu thụ tài sản này nên đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” qui định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.
Với hành vi phạm tội nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Đào Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, điểm c khoản 2 Điều 173; Bùi Văn T1 và Nguyễn Thế C về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thế C, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho bị hại nên hành vi phạm tội của bị cáo đáng được khoan hồng. Trong vụ án này, hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ít hơn so với Bùi Văn T1 về số lần và giá trị của tài sản nhưng Tòa án sơ thẩm phạt C với mức án 01 năm 06 tháng tù và phạt T1 với mức án 01 năm 09 tháng tù là chưa thỏa đáng; có phần nặng so với vị trí, vai trò của bị cáo trong vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm để bị cáo yên tâm cải tạo, sửa chữa sai lầm để sớm trở về với gia đình, làm người công dân có ích cho xã hội.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế C; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2021/HS-ST ngày 13/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thế C 09 (Chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 22 tháng 12 năm 2020 đến ngày 08 tháng 02 năm 2021.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thế C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - TAND huyện Vĩnh Tường; - VKSND huyện Vĩnh Tường; - Công an huyện Vĩnh Tường; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường; - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Lưu hồ sơ; Toà hình sự, HC-TP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quang Hùng |