vanban.org

Bản án 58/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng V đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh S về việc ly hôn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng V được ly hôn với anh Nguyễn Thanh S. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 27/10/2012 cho anh Nguyễn Thanh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Thanh S không yêu cầu chị Nguyễn Thị Hồng V cấp dưỡng nuôi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN, NUÔI CON"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng V đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh S về việc ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————
Bản án số: 58/2021/HNGĐ-ST
Ngày 15-7-2022
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Đơn;

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lưu Kim Hằng - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1985; thường trú: Số 1081/64 đường Lê Hồng P, tổ 55, khu phố 8, phường P, thành phố M, tỉnh B. Tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Thị Kim V, đường T, tổ 73, khu phố 8, phường A, thành phố M, tỉnh B. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1980; thường trú: Số 1081/64 đường Lê Hồng P, tổ 55, khu phố 8, phường P, thành phố M, tỉnh B. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2022, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng Vtrình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu khoảng 05 tháng, chị V và anh S tự nguyện sống chung với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố M, tỉnh B theo giấy chứng nhận kết hôn số 107, ngày 01/9/2003. Sau khi kết hôn, anh chị sống tại thành phố M cho đến nay. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Chị V và anh S đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị V yêu cầu được ly hôn với anh S.

Về con chung: Qúa trình sống chung, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thuỳ T, sinh ngày 22/3/2002 và Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 27/10/2012. Hiện nay, con chung đang sống với anh S. Sau khi ly hôn, chị V yêu cầu anh S trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, chị V không cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu T đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh S trình bày: Thống nhất phần trình bày của chị V về thời thời gian chung sống, cũng như nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng. Anh S và chị V đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, do đó anh S đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị V. Về con chung: Hiện nay các con đều sống chung với anh S. Sau khi ly hôn, anh Sơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu T đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh B tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về sự vắng mặt của các đương sự: Ngày 12/7/2022, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Ngày 15/7/2022, bị đơn anh Nguyễn Thanh Sơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng V và anh Nguyễn Thanh S tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố M, tỉnh B theo giấy chứng nhận kết hôn số 107, ngày 01/9/2003 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị V và anh S xác định cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay.

Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị V và anh S đã diễn ra trong thời gian dài, chị V đã dọn ra ngoài sống từ năm 2020 đến nay, điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa vợ chồng chị V và anh S đã thật sự trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không mang lại hạnh phúc cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị V yêu cầu ly hôn với anh S là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Hiện nay, con chung đang sống với anh S. Xét thấy, tại bản tự khai cháu Đ có nguyện vọng được sống với anh S, chị V cũng thống nhất giao cháu Đ cho anh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh S đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ. Vì vậy, chị V yêu cầu anh S trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh S không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của anh nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh B.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng V đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh S về việc ly hôn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng V được ly hôn với anh Nguyễn Thanh S.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 27/10/2012 cho anh Nguyễn Thanh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Thanh S không yêu cầu chị Nguyễn Thị Hồng V cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn, chị Nguyễn Thị Hồng V và anh Nguyễn Thanh S đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trường hợp chị V lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc anh S nuôi con thì anh S có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị V theo quy định của pháp luật. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hồng V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001974 ngày 23/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh B.

3. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ