vanban.org

Bản án 58/2021/DS-ST — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/12/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc chia di sản thừa kế.

Chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn H3 là quyền sử dụng đất có diện tích 533.6m2 (gồm 160m2 ODT, 373.6m2 CLN) thuộc thửa 1220, tờ bản đồ số 4AB.1, tọa lạc tại khu phố BM 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B thành 05 kỷ phần thừa kế nhƣ sau: Bà Nguyễn Thị M đƣợc quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 148… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp di sản thừa kế giữa bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Ngọc S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc chia di sản thừa kế.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 58/2021/DS - ST
Ngày: 29/12/2021
V/v Tranh chấp di sản thừa kế.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Thắm.

- Các Hội thẩm nhân dân

1/ Bà Phạm Tú Nhi;

2/ Ông Trần Trung Hiếu.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Anh Ly - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 186/2021/TLST-DS ngày 15 tháng 6 năm 2021 về “Tranh chấp di sản thừa kế” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 93/2021/QĐST-DS ngày 13/12/2021 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1944; thƣờng trú: Số 6/52 khu phố BM 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B; địa chỉ liên hệ: Số 69 đƣờng số 9, khu phố NĐ 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Chị Trần Thị T, sinh năm 1995; địa chỉ thƣờng trú: Xã E, huyện K, tỉnh Đ; địa chỉ liên hệ: Số 69 đƣờng 9, khu phố NĐ 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B, là ngƣời đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 16/10/2020). Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm: 1962; Thƣờng trú: Số 25/9D, khu phố NĐ 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1953; thƣờng trú: Số 97 đƣờng N, khu phố BM 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B.Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956; thƣờng trú: Số 42/222A đƣờng H, quận B, thành phố H. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

3. Bà Nguyễn Thị Lệ T1; sinh năm: 1965; thƣờng trú: Số 97A đƣờng N, khu phố BM 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

4. Ông Nguyễn Thanh Q; thƣờng trú: Số 44/26/5 đƣờng N, khu phố NĐ 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt;

5. Bà Nguyễn Thị Mỹ P; thƣờng trú: 46/24/11 đƣờng C, khu phố NĐ 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt;

6. Ông Nguyễn Minh Q1, thƣờng trú: Số 7/12 đƣờng Đ, khu phố A, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt;

7. Bà Nguyễn Thị Mỹ D; thƣờng trú: 46/24/11 đƣờng C, khu phố NĐ 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt;

8. Ông Nguyễn Văn H2; thƣờng trú: 46/24/11 đƣờng C, khu phố NĐ 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt

9. Ông Nguyễn Quế C; thƣờng trú: 46/24/11 đƣờng C, khu phố NĐ 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt

10. Ông Nguyễn Thành N; thƣờng trú: Số 44/26/7 đƣờng N, khu phố NĐ 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 02/6/2021, đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 08/11/2021 và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M là chị Trần Thị T trình bày:

Cụ Nguyễn Văn H3, sinh năm 1920 (chết năm 2009) và cụ Trần Thị C1 (chết năm 1975), có 07 ngƣời con chung bao gồm:

1/ Nguyễn Văn T2, sinh năm 1942, chết năm 2014, có vợ là bà Nguyễn Thị B, đã chết (không rõ năm), có 07 ngƣời con gồm:

Nguyễn Thanh Q;

Nguyễn Thị Mỹ P;

Nguyễn Minh Q1;

Nguyễn Thị Mỹ D;

Nguyễn Thành N;

Nguyễn Văn H2;

Nguyễn Quế C.

2/ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1944;

3/ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953;

4/ Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956;

5/ Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1962;

6/ Bà Nguyễn Thị Lệ T1, sinh năm 1965;

7/ Ông Nguyễn Thanh P1, sinh năm 1967 (đã chết năm 2015). Ông P1 không có vợ, con (bao gồm con đẻ và con nuôi);

Ngoài ra, cụ H3 và cụ C1 không có con riêng, con nuôi nào khác.

Khi còn sống cụ H3 có tạo lập đƣợc một khối tài sản riêng là quyền sử dụng đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 533.6m2 (gồm 160m2 ODT, 373.6m2 CLN) thuộc thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB.1, tọa lạc tại khu phố BM 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B, đã đƣợc UBND huyện D (nay là thành phố D), tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 741975, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H2171 ngày 03/7/2007 do cụ H3 đứng tên. Trên đất cụ H3 có xây dựng nhà ở và một số phòng trọ, ki ốt cho thuê.

Ngày 15/5/2006, cụ H3 lập Di chúc để định đoạt đối với khối tài sản trên nhƣ sau:

Toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên đƣợc chia làm 02 phần, đƣợc xác định ranh giới bằng một lối đi chung có chiều ngang 1.5m, chiều dài tính từ đƣờng N kéo dài đến hết đất. Phần còn lại chia cho các con cụ thể nhƣ sau:

+ Chia cho bà Nguyễn Thị H quyền sử dụng đất có diện tích đất là 268.7m2, trên đất có 01 căn nhà cấp 4, diện tích xây dựng 200m2 và 02 phòng trọ, có tứ cận nhƣ sau:

- Hƣớng Đông giáp nhà ông Ba C2;

- Hƣớng Tây giáp đƣờng D- B (nay là đƣờng N);

- Hƣớng Nam giáp đƣờng đi chung trong gia đình;

- Hƣớng Bắc giáp nhà đất Đoàn Thị Thu H4.

Bà H có trách nhiệm nuôi dƣỡng, chăm sóc ông Nguyễn Thanh P1, sinh năm 1967, bị bệnh tâm thần cho đến khi ông P1 qua đời.

+ Chia cho bà Nguyễn Thị M quyền sử dụng đất có diện tích 128m2 (ngang 8m, dài 16m), trên đất có 01 căn nhà cấp 4, có tứ cận nhƣ sau:

- Hƣớng Đông giáp phần đất Nguyễn Ngọc S đƣợc chia;

- Hƣớng Tây giáp đƣờng D- B (nay là đƣờng N);

- Hƣớng Nam giáp nhà đất Bùi Văn Đ;

- Hƣớng Bắc giáp đƣờng đi chung trong gia đình.

+ Chia cho ông Nguyễn Ngọc S quyền sử dụng đất có diện tích 49m2 (ngang 7m, dài 7m), có tứ cận nhƣ sau:

- Hƣớng Đông giáp phần Nguyễn Thị H1 đƣợc chia;

- Hƣớng Tây giáp phần đất bà Nguyễn Thị M đƣợc chia;

- Hƣớng Nam giáp nhà đất Bùi Văn Đ;

- Hƣớng Bắc giáp đƣờng đi chung trong gia đình.

+ Chia cho bà Nguyễn Thị H1 quyền sử dụng đất có diện tích 54.5m2 (ngang 7m, dài 7.78m), trên đất có 02 phòng trọ, có tứ cận nhƣ sau:

- Hƣớng Đông giáp phần đất Nguyễn Thị Lệ T1 đƣợc chia;

- Hƣớng Tây giáp phần đất Nguyễn Ngọc S đƣợc chia;

- Hƣớng Nam giáp nhà đất Bùi Văn Đ;

- Hƣớng Bắc giáp đƣờng đi chung trong gia đình.

+ Chia cho bà Nguyễn Thị Lệ T1 quyền sử dụng đất có diện tích 51.3m2, (ngang 7m, dài 7.32m), trên đất có 03 phòng trọ, có tứ cận nhƣ sau:

- Hƣớng Đông giáp nhà ông Ba C2;

- Hƣớng Tây giáp phần đất Nguyễn Thị H1 đƣợc chia;

- Hƣớng Nam giáp nhà đất Bùi Văn Đ;

- Hƣớng Bắc giáp đƣờng đi chung trong gia đình.

Di chúc nêu trên đã đƣợc Ủy ban nhân dân trị trấn D (nay là UBND phƣờng D) xác nhận số chứng thực 04, quyển số 01/CT-DC.TP ngày 15/5/2006.

Sau khi lập di chúc, cụ Nguyễn Văn H3 đã giao đất cho các con sử dụng nhƣng không tiến hành đo đạc cụ thể, hiện nay những ngƣời đƣợc cho đất đang sử dụng đúng vị trí và hiện trạng nhƣ Di chúc đã nêu.

Năm 2009, cụ Nguyễn Văn H3 chết, bà M nhiều lần yêu cầu các anh em trong gia đình làm thủ tục chia thừa kế theo nội dung Di chúc của cụ H3 nhƣng ông Nguyễn Ngọc S không hợp tác.

Vì vậy, bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng công nhận di chúc do cụ H3 lập ngày 15/5/2006 và giải quyết chia thừa kế đối với di sản của cụ Nguyễn Văn H3 chết để lại theo nội dung Di chúc đƣợc lập ngày 15/5/2006. Căn cứ kết quả đo đạc thực tế thì kỷ phần hiện bà M đang quản lý có diện tích 148m2, vị trí này bà M đã đƣợc cụ H3 xác định tại thời điểm lập di chúc. Đồng thời, quá trình tố tụng, các anh chị em của bà M là những ngƣời đƣợc hƣởng kỷ phần theo di chúc của cụ H3 không thắc mắc gì đối với kết quả đo đạc thực tế và không có ý kiến gì về diện tích thực tế bà M đang quản lý, sử dụng nên bà M yêu cầu đƣợc hƣởng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế. Nguyên đơn chỉ tranh chấp quyền sử dụng đất, không tranh chấp đối với tài sản có trên đất. Tài sản trên phần đất của ngƣời nào đƣợc chia thì thuộc về ngƣời đó.

- Lời khai trong quá trình tố tụng bị đơn ông Nguyễn Ngọc S trình bày: Thống nhất với trình bày của ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn về quan hệ huyết thống, hàng thừa kế và nội dung di chúc do cụ Nguyễn Văn H3 lập ngày 15/5/2006 về việc định đoạt khối di sản do cụ H3 để lại. Căn cứ vào Di chúc thì ông S đƣợc chia 49m2 (ngang 7m, dài 7m), hiện trạng là đất trống, vị trí đất hiện trạng đúng nhƣ trình bày của đại diện nguyên đơn. Tuy nhiên căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế và sự thống nhất của các anh chị em trong gia đình thì quyền sử dụng đất ông S đƣợc chia có diện tích cụ thể là 47.7m2 nên ông S chỉ yêu cầu đƣợc hƣởng phần đất có diện tích 47.7m2 thuộc một phần thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB-1 tọa lạc tại phƣờng D, thành phố D, tỉnh B, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

- Lời khai trong quá trình tố tụng ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H trình bày: Thống nhất phần trình bày của ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn và bị đơn về quan hệ huyết thống hàng thừa kế và nội dung di chúc do cụ Nguyễn Văn H3 lập ngày 15/5/2006 về việc định đoạt khối di sản do cụ H3 để lại. Căn cứ vào Di chúc thì bà H đƣợc chia 268m2, trên đất có 01 căn nhà cấp 4 và 02 phòng trọ, vị trí đất hiện trạng đúng nhƣ trình bày của đại diện nguyên đơn. Tuy nhiên căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế và sự thống nhất của các anh chị em trong gia đình thì quyền sử dụng đất bà H đƣợc chia có diện tích cụ thể là 200.3m2 nên bà H chỉ yêu cầu đƣợc hƣởng phần đất có diện tích 200.3m2 thuộc một phần thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB-1 tọa lạc tại phƣờng D, thành phố D, tỉnh B, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

- Lời khai trong quá trình tố tụng ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Thống nhất phần trình bày của ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn và bị đơn về quan hệ huyết thống hàng thừa kế và nội dung di chúc do cụ Nguyễn Văn H3 lập ngày 15/5/2006 về việc định đoạt khối di sản do cụ H3 để lại. Căn cứ vào Di chúc thì bà H1 đƣợc chia 54.5m2, trên đất có 02 phòng trọ, vị trí đất hiện trạng đúng nhƣ trình bày của đại diện nguyên đơn. Tuy nhiên căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế và sự thống nhất của các anh chị em trong gia đình thì quyền sử dụng đất bà H1 đƣợc chia có diện tích cụ thể là 39m2 nên bà H1 chỉ yêu cầu đƣợc hƣởng phần đất có diện tích 39m2 thuộc một phần thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB-1 tọa lạc tại phƣờng D, thành phố D, tỉnh B, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

- Lời khai trong quá trình tố tụng ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Lệ T1 trình bày: Thống nhất phần trình bày của ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn và bị đơn về quan hệ huyết thống hàng thừa kế và nội dung di chúc do cụ Nguyễn Văn H3 lập ngày 15/5/2006 về việc định đoạt khối di sản do cụ H3 để lại. Căn cứ vào Di chúc thì bà T1 đƣợc chia 51.3m2, trên đất có 03 phòng trọ, vị trí đất hiện trạng đúng nhƣ trình bày của đại diện nguyên đơn. Tuy nhiên căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế và sự thống nhất của các anh chị em trong gia đình thì quyền sử dụng đất bà T1 đƣợc chia có diện tích cụ thể là 42.7m2 nên bà T1 chỉ yêu cầu đƣợc hƣởng phần đất có diện tích 42.7m2 thuộc một phần thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB-1 tọa lạc tại phƣờng D, thành phố D, tỉnh B, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

- Đối với những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Nguyễn Thanh Q; bà Nguyễn Thị Mỹ P; ông Nguyễn Minh Q1; bà Nguyễn Thị Mỹ D; ông Nguyễn Thành N; ông Nguyễn Văn H2 và Nguyễn Quế C: Quá trình tố tụng, mặc dù đã đƣợc Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 13/12/2021; tham gia phiên tòa vào các ngày 23/12/2021 và 29/12/2021 nhƣng ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có tên trên không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu độc lập, không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm tham gia tố tụng, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc, định giá: Quyền sử dụng đất hiện các đƣơng sự xác định tranh chấp có diện tích 533.6m2 (gồm 160m2 ODT, 373.6m2 CLN) thuộc thửa 1220, tờ bản đồ số 4AB.1, tọa lạc tại khu phố BM 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B, đã đƣợc UBND huyện D (nay là thành phố D), tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 741975, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H2171 ngày 03/7/2007. Các bên thống nhất giá trị đất tranh chấp 15.000.000 đồng/m2.

kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh B:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa đã tuân theo đúng các qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Ngọc S; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị Lệ T1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Nguyễn Thanh Q; bà Nguyễn Thị Mỹ P; ông Nguyễn Minh Q1; bà Nguyễn Thị Mỹ D; ông Nguyễn Thành N; ông Nguyễn Văn H2 và Nguyễn Quế C đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên là đúng quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp và chứng cứ Tòa án đã thu thập đƣợc trong hồ sơ vụ án xét thấy: Căn cứ Di chúc ngày 15/5/2006 do cụ Nguyễn Văn H3 lập tại UBND thị trấn D (nay là thành phố D), tỉnh B về việc định đoạt tài sản của cụ H3 cho các con đƣợc đánh máy, cụ H3 đã ký tên, điểm chỉ trong di chúc, di chúc trên đã đƣợc Phó Chủ tịch UBND thị trấn D xác nhận nên phù hợp theo quy định tại các Điều 609, 630 và Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2015, do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có tại hồ sơ đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về sự vắng mặt của đƣơng sự: Bị đơn ông Nguyễn Ngọc S; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị Lệ T1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt; Những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh Q; bà Nguyễn Thị Mỹ P; ông Nguyễn Minh Q1; bà Nguyễn Thị Mỹ D; ông Nguyễn Thành N; ông Nguyễn Văn H2 và Nguyễn Quế C đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do và không cung cấp lời khai. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có tên trên theo quy định của Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Về thời điểm mở thừa kế: Cụ Nguyễn Văn H3 chết ngày 16/3/2009. Do đó, thời điểm mở thừa kế là ngày 16/3/2009.

Về di sản thừa kế: Các đƣơng sự thống nhất diện tích đất thuộc thửa đất số thửa 1220, tờ bản đồ số 4AB.1 tọa lạc khu phố BM 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 741975, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H2171 do UBND huyện D (nay là thành phố D), tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Văn H3 ngày 03/7/2007 là tài sản của cụ Nguyễn Văn H3 chết để lại. Cụ H3 đã lập di chúc để lại tài sản do các con gồm Nguyễn Thị M, Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1 và Nguyễn Thị Lệ T1. Đây đƣợc xem là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tính hợp pháp của Di chúc: Di chúc do cụ Nguyễn Văn H3 lập ngày 15/5/2006 tại UBND thị trấn D (nay là thành phố D), tỉnh B về việc định đoạt tài sản của cụ H3 cho các con đƣợc đánh máy, đánh số trang, cụ H3 đã ký tên, điểm chỉ trong Di chúc đồng thời Di chúc trên đã đƣợc Phó Chủ tịch UBND thị trấn D xác nhận số chứng thực: 04, Quyển số 01/CT – DC.TP ngày 15/5/2005 có nội dung “ Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1920 đã tự nguyện lập di chúc này. Theo sự nhận biết của tôi tại thời điểm chứng thực, ông Nguyễn Văn H3 có đầy đủ năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật. Nội dung của Di chúc phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội. Người lập di chúc đã được nghe đọc lại bản di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và đã ký tên, điểm chỉ vào di chúc này trước sự có mặt của tôi”. Do đó, có căn cứ xác định Di chúc do cụ Nguyễn Văn H3 lập đã thể hiện đúng ý chí nguyện vọng của cụ H3. Cụ H3 là ngƣời có quyền sử dụng đất nên việc cụ H3 lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho các con là phù hợp quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015. Về nội dung và hình thức của Di chúc không không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật, có chứng thực nên phù hợp quy định tại Điều 630, 635 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn phù hợp quy định tại Điều 659 Bộ luật Dân sự 2015 nên có cơ sở chấp nhận.

Căn cứ Di chúc lập ngày 15/5/2006 thì những ngƣời đƣợc hƣởng di sản của cụ Nguyễn Văn H3 gồm:

Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1944;

Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953;

Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956;

Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1962;

Bà Nguyễn Thị Lệ T1, sinh năm 1965;

Về việc phân chia di sản theo di chúc: Quá trình tố tụng, nguyên đơn, bị đơn và những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà H, bà H1 và bà T1 thống nhất các định di sản do cụ H3 để lại là phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 533.6m2 (gồm 160m2 ODT, 373,6m2 CLN). Căn cứ biên bản thỏa thuận ngày 08/11/2021 thì các bên đã xác định nhƣ sau: Diện tích 533.6m2 sau khi trừ đi phần đƣờng đi chung từ đƣờng N vào (diện tích đƣờng đi chung là 55.9m2) còn lại là 477.7m2 sẽ chia cho từng ngƣời nhƣ sau:

Bà Nguyễn Thị H đƣợc quyền quản lý, sử dụng diện tích 200.3m2 thuộc một phần Thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB-1 tọa lạc tại phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Trên đất gắn liền với 01 (một) căn nhà cấp 4 và 02 (hai) phòng trọ.

Bà Nguyễn Thị M đƣợc quyền quản lý, sử dụng, diện tích 148m2 thuộc một phần Thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB-1 tọa lạc tại phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Trên đất gắn liền với 01 (một) căn nhà cấp 4.

Ông Nguyễn Ngọc S đƣợc quyền quản lý, sử dụng, diện tích 47.7m2 thuộc một phần Thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB-1 tọa lạc tại phƣờng D, thành phố D, tỉnh B.

Bà Nguyễn Thị H1 đƣợc quyền quản lý, sử dụng, diện tích 39m2 thuộc một phần Thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB-1 tọa lạc tại phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Trên đất gắn liền với 02 (hai) phòng trọ.

Bà Nguyễn Thị Lệ T1 đƣợc quyền quản lý, sử dụng, diện tích 42.7m2 thuộc một phần thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB-1 tọa lạc tại phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Trên đất gắn liền với 03 (ba) phòng trọ.

Đối với các tài sản khác (nếu có) trên đất, các đƣơng sự không tranh chấp, tài sản trên đất thuộc phần đất đƣợc chia cho ai thì ngƣời đó đƣợc toàn quyền quản lý, sử dụng.

Xét thấy, nội dung thỏa thuận giữa nguyên đơn, bị đơn và những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị Lệ T1 trong quá trình tố tụng là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và không vi phạm đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Tuy nhiên, tại phiên tòa có đƣơng sự vắng mặt nên Hội đồng xét xử không thể ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự, mà phải giải quyết bằng bản án để bảo đảm quyền lợi cho đƣơng sự vắng mặt.

Về chi phí xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản là 4.190.000 đồng. Nguyên đơn tự nguyện chịu.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị Lệ T1 phải chịu theo quy định của pháp luật tƣơng ứng với giá trị kỷ phần đƣợc hƣởng. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị H1 là ngƣời cao tuổi nên thuộc trƣờng hợp đƣợc miễn nộp án phí theo quy định tại Điều 2 Luật Ngƣời cao tuổi năm 2009 và Điều 12, 13 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 609, các Điều 623 đến Điều 628, Điều 630, Điều 631, Điều 635, Điều 643 và Điều 659 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Các Điều 147, 157, 158, 227, 228, 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 2 Luật ngƣời cao tuổi năm 2009;

Căn cứ Điều 12, 13, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc chia di sản thừa kế.

Chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn H3 là quyền sử dụng đất có diện tích 533.6m2 (gồm 160m2 ODT, 373.6m2 CLN) thuộc thửa 1220, tờ bản đồ số 4AB.1, tọa lạc tại khu phố BM 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B thành 05 kỷ phần thừa kế nhƣ sau:

- Bà Nguyễn Thị M đƣợc quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 148m2 (gồm: 64.1m2 ODT, 83.9m2 CLN) và tài sản gắn liền trên đất thuộc một phần thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB.1, tọa lạc tại khu phố BM 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B, có tứ cận:

+ Hƣớng Đông giáp phần đất ông Nguyễn Ngọc S đƣợc chia dài 7.15m;

+ Hƣớng Tây giáp đƣờng N dài 8.81 m;

+ Hƣớng Nam giáp nhà đất bà Trần Thị K dài 18.45m;

+ Hƣớng Bắc giáp đƣờng đi chung vào phần đất đƣợc chia của ông Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị Lệ T1 dài 18.25m.

(Ký hiệu là C trên sơ đồ bản vẽ kèm theo);

- Ông Nguyễn Ngọc S đƣợc quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 47,7m2(gồm: 5,8m2 ODT, 41.9m2 CLN) thuộc một phần thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB.1, tọa lạc tại khu phố BM 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B, có tứ cận:

+ Hƣớng Đông giáp phần đất bà Nguyễn Thị H1 đƣợc chia dài 6.11m;

+ Hƣớng Tây giáp phần đất bà Nguyễn Thị M đƣợc chia dài 7.15m;

+ Hƣớng Nam giáp nhà đất bà Trần Thị K dài 7.42m;

+ Hƣớng Bắc giáp đƣờng đi chung vào phần đất đƣợc chia của bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị Lệ T1 dài 7.01m.

(Ký hiệu là D trên sơ đồ bản vẽ kèm theo);

- Bà Nguyễn Thị H đƣợc quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 200.3m2(gồm: 69.5m2 ODT, 130.8m2 CLN) và tài sản gắn liền trên đất thuộc một phần thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB.1, tọa lạc tại khu phố BM 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B, có tứ cận:

+ Hƣớng Đông giáp nhà đất ông Phan Văn Q1 dài 4.95 m;

+ Hƣớng Tây giáp đƣờng N dài 4.92m;

+ Hƣớng Nam giáp đƣờng đi chung vào phần đất đƣợc chia của ông Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị Lệ T1 dài 41.11m;

+ Hƣớng Bắc giáp nhà đất Đoàn Thị Thu H4 dài 40.96 m.

(Ký hiệu là A trên sơ đồ bản vẽ kèm theo);

- Bà Nguyễn Thị H1 đƣợc quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 39m2(CLN) và tài sản gắn liền trên đất thuộc một phần thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB.1, tọa lạc tại khu phố BM 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B, có tứ cận:

+ Hƣớng Đông giáp phần đất Nguyễn Thị Lệ T1 đƣợc chia dài 5.06 m;

+ Hƣớng Tây giáp phần đất Nguyễn Ngọc S đƣợc chia dài 6.11m;

+ Hƣớng Nam giáp nhà đất bà Trần Thị K dài 7m;

+ Hƣớng Bắc giáp đƣờng đi chung vào phần đất đƣợc chia của ông Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị Lệ T1 dài 7.01m.

(Ký hiệu là E trên sơ đồ bản vẽ kèm theo);

- Bà Nguyễn Thị Lệ T1 đƣợc quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 42,7m2(CLN) và tài sản gắn liền trên đất thuộc một phần thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 4AB.1, tọa lạc tại khu phố BM 2, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B, có tứ cận:

+ Hƣớng Đông giáp nhà đất ông Phan Văn Q1 dài 5.22m;

+ Hƣớng Tây giáp phần đất Nguyễn Thị H1 đƣợc chia dài 5.06m;

+ Hƣớng Nam giáp nhà đất bà Trần Thị K dài 8.66m;

+ Hƣớng Bắc giáp đƣờng đi chung vào phần đất đƣợc chia của ông Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị Lệ T1 dài 6.05m; giáp đất bà Nguyễn Thị H đƣợc chia dài 2.91m.

(Ký hiệu là F trên sơ đồ bản vẽ kèm theo);

2. Các đƣơng sự thống nhất không phân chia đối với diện tích đất 55.9m2 (gồm: 20.6m2 ODT, 35.3m2 CLN) thuộc một phần thửa 1220 (ký hiệu B trên bản vẽ kèm theo), đƣợc sử dụng làm đƣờng đi chung vào phần đất đƣợc chia của ông Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị Lệ T1.

3. Kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố D thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 741975, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H2171 do UBND huyện D (nay là thành phố D), tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Văn H3 ngày 03/7/2007 để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đƣơng sự theo quyết định phân chia của Tòa án.

4. Các đƣơng sự có nghĩa vụ làm thủ tục đăng ký kê khai với cơ quan có thẩm quyền đối với phần diện đất đƣợc phân chia để đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo quy định về pháp luật đất đai.

5. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ, đo đạc và định giá tài sản: là 4.190.000 đồng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M tự nguyện chịu, đƣợc khấu trừ vào tiền chi phí đã nộp. Bà Nguyễn Thị M đã nộp đủ tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản.

6. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị H1, không phải chịu án phí. Vì họ là ngƣời cao tuổi, thuộc trƣờng hợp đƣợc miễn.

- Ông Nguyễn Ngọc S phải chịu 32.620.000 (ba mƣơi hai triệu sáu trăm hai mƣơi nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Bà Nguyễn Thị Lệ T1 phải chịu 29.620.000 (hai mƣơi chín triệu sáu trăm hai mƣơi nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Các đƣơng sự có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đƣơng sự vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc niêm yết bản án.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành dân sự, ngƣời phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ