vanban.org

Bản án 58/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 11/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Bị cáo Phạm Quốc S phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc S: 30 (Ba mươi) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 19/12/2019; Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc Sơn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Bị cáo Phạm Quốc S phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND TỈNH TN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TAND TP TN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2020/HSST
Ngày: 11/3/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN – TỈNH TN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Huệ

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Khắc Mã 2. Ông Trần Trọng Tú

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Ngọc Anh - Cán bộ Toà án nhân dân TP TN.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TN tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Đức Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố TN, Tòa án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2020/HSST ngày 07/02/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2020/QĐXXST - HS ngày 03/3/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Quốc S; Sinh ngày 10/11/1963; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 20, phường TL, thành phố TN, tỉnh TN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 06/10; Con ông: Phạm Văn H (Đã chết); Con bà: Đoàn Thị Đ, sinh năm 1930; Gia đình có 6 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; Vợ: Trần Thị L, sinh năm 1966; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1995.

Tiền án: Tại Bản án số 2137 ngày 31/10/1998 của Tòa án phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối Cao xử phạt Phạm Quốc S 8 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2004. Chưa chấp hành xong khoản án phí và tiền phạt.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Tại Bản án số 224/2006/HSST ngày 20/10/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh TN xử phạt xử phạt Phạm Quốc S 9 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 08/01/2014. Chấp hành xong khoản án phí và 450.000 đồng tiền phạt ngày 22/4/2008. Số tiền phạt 4.550.000 đồng được miễn theo Quyết định số 98/2013/THADS ngày 11/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố TN.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TN (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2019). (Có mặt tại phiên tòa)

Ngƣời chứng kiến:

Ông Dương Văn T, sinh năm 1962 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: xã C S 5, xã S C, thành phố TN, tỉnh TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/12/2019, tổ công tác của Công an xã S Cẩm, thành phố TN đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường dân sinh thuộc xóm S Cẩm, xã S Cẩm, thành phố TN thì phát hiện 01 người nam giới có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu câu kiểm tra, người nam giới trên khai tên Phạm Quốc S và tự giác lấy từ lòng bàn tay trái ra 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp, S khai đó là Heroine, Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với S và thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.

Tiến hành mở niêm phong cân xác định: Số chất bột màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu vàng thu giữ của Phạm Quốc S có khối lượng 0,342 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 61/KL-PC09 ngày 27/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ đầu của Phạm Quốc S là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,342 gam.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Quốc S khai nhận: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 19/12/2019, S một mình đi từ nhà đến khu dân cư gần chùa Kim Long thuộc phường TL, thành phố TN mục đích tìm mua Heroine để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, S gặp và mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch tên là Nga 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 300.000 đồng. Mua xong, S cầm gói Heroine ở lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi đến khu vực đường dân sinh thuộc xóm S Cẩm, xã S Cẩm, thành phố TN thì bị tổ công tác của Công an xã S Cẩm bắt quả tang như trên.

Lời khai nhận của Phạm Quốc S phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định.

Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu S. Hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 43/CT- VKSTPTN, ngày 02/02/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN đã truy tố Phạm Quốc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015.

Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên xử bị cáo Phạm Quốc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu S.

- Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Quốc S tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 19 giờ 30 phút ngày 19/12/2019, tại khu vực xóm S Cẩm, xã S Cẩm, thành phố TN, tỉnh TN, Phạm Quốc S đã có hành vi tàng trữ 0,342 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị cơ quan Công an xã S Cẩm, thành phố TN phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng. Hành vi của Phạm Quốc S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:

- Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy làm gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội gây mất ANTT tại địa phương. Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có 01 tiền án, tại Bản án số 2137 ngày 31/10/1998 của Tòa án phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối Cao xử phạt Phạm Quốc S 8 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2004, chưa chấp hành xong khoản án phí và tiền phạt, vì vậy lần phạm tội lần này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Tiền sự không nhưng bị cáo có nhân thân rất xấu đã từng bị Tòa án nhân dân tỉnh TN xử phạt về tội Mua bán trái phép chất ma túy, các bản án xét xử bị cáo đều là tội phạm liên quan đến ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS.

. Về hình phạt: Hội đồng xét xử thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo, xét thấy là phù hợp nên chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước, nhưng qua xác minh bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản gì riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Về vật chứng vụ án: áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: S (bên trong có chứa 0,321 gam mẫu S còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu S) mặt sau có 02 dấu tròn của Phòng KTHS Công an tỉnh TN và chữ ký của Trương Đăng Tam.

. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Phạm Quốc S khai mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch tên Nga. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người phụ nữ này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN không có cơ sở điều tra làm rõ xử lý.

. Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên xử: Bị cáo Phạm Quốc S phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc S: 30 (Ba mươi) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 19/12/2019;

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: S (bên trong có chứa 0,321 gam mẫu S còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu S) mặt sau có 02 dấu tròn của Phòng KTHS Công an tỉnh TN và chữ ký của Trương Đăng Tam.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 142 ngày 06/2/2020).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ