vanban.org

Bản án 58/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 15/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Trả tại phiên tòa 01 (một) Giấy ph p lái e hạng FC số 310093012926 mang tên DVK do Sở Giao thông Vận tải t…

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo D… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "DVK - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Trả tại phiên tòa 01 (một) Giấy ph p lái e hạng FC số 310093012926 mang tên DVK do Sở Giao thông Vận tải t…
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2020/HS-ST
Ngày 15-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hải Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Điển

Bà Nguyễn Thị Phin

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng t sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra t số: 54/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2020/QĐST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

DVK, sinh ngày 18 tháng 02 năm 1977, tại Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lái e; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D (đã chết) và bà E; vợ là F và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08/3/2020, đến ngày 17/3/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại: Ông BH, sinh năm 1957 và bà BH1, sinh năm 1957 (đều đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị G - là con đẻ của bị hại; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty NLQ; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh NLC1, có mặt; bà NLC2, bà NLC3, bà NLC4, bà NLC5, ông NLC6, anh NLC7, ông NLC8; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 08/3/2020, DVK là lái e của Công ty NLQ, điều khiển e ôtô đầu k o BKS 29C-424.61 đi trên đường H, quận I, thành phố Hải Phòng theo hướng Hà Nội về Hải Phòng (đi th e để kiểm tra lỗi kỹ thuật). Trên xe đi cùng có thợ s a e NLC1 ngồi ghế phụ. Khi về đến khu vực khách sạn J đường H, DVK tăng tốc xe để vượt e ôtô khác đang chạy cùng chiều phía trước. Sau đó, DVK quan sát thấy làn đường ngược chiều có nhiều phương tiện đang đi tới nên đánh lái sang phải về làn đường của mình thì phát hiện phía trước xe ô tô của DVK khoảng 70m có xe môtô BKS 16H9-0957 do ông BH điều khiển chở phía sau là bà BH1 đi cùng chiều. Theo phán đoán của DVK, e mô tô đang chuyển hướng rẽ trái sang đường lối vào bến đò K nhưng không có tín hiệu chuyển hướng. DVK liên tục bấm còi và đạp chết phanh, nhưng do e không có tải trọng nên không dừng mà theo quán tính trượt trên mặt đường và đã đâm vào e mô tô phía trước. Trên đoạn đường này không có biển cảnh báo được sang đường, không có vạch sơn mũi tên chỉ được ph p rẽ sang đường. Nhưng do ông BH điều khiển xe mô tô thiếu quan sát, không dừng e lại mà vẫn tiếp tục điều khiển e mô tô cắt ch o từ giữa làn đường Hà Nội - Hải Phòng về phía vạch kẻ phân làn đường để sang đường (gần lối rẽ đi bến đò K), không có tín hiệu chuyển hướng nên xe ôtô do DVK điều khiển đã đâm vào e mô tô do ông BH điều khiển. Hậu quả, ông BH và bà BH1 chết, e mô tô BKS 16H9-0957 và phần đầu e ô tô đầu k o BKS 29C-424.61 bị hư hỏng. Sau khi sự việc ảy ra, DVK đến Công an phường Hùng Vương đầu thú.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ác định: "Hiện trường nơi xảy ra tai nạn..., đoạn phía trước cửa nhà số 427 đường H, phường H, quận I, thành phố Hải Phòng. Đường H rộng 18m, giữa đường là các vạch kẻ đứt đoạn sơn màu vàng. Tại hiện trường có 02 dấu vết dạng vết phanh song song có chiều dài mỗi vết khoảng 44m... Các vết cày xước: Vết thứ nhất nằm trên mép vết phanh xe phía Bắc dài 1,83m...; vết cày xước thứ hai dạng không liên tục dài 7,8m. Hai nạn nhân trong tư thế nằm nghiêng trái, phía trước là nạn nhân BH. Xe môtô Honda Wave mầu xanh, BKS 16H9-0957 đổ nghiêng trái, dập vỡ nhiều bộ phận".

Tại Bản kết luận giám định t thi số 47 và 48 ngày 16/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân BH và BH1 là "Sốc do đa chấn thương", cơ chế hình thành thương tích là do va đập, chèn p mạnh.

Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, ác định: Xe mô tô nhãn hiệu Wave An pha mầu anh, BKS 16H9-0957 đã bị hư hỏng sau tai nạn, không thể khởi động; e có đủ hệ thống đèn pha, đèn tín hiệu, hệ thống phanh hãm. Cụm công tắc i nhan ở vị trí giữa - cân bằng (không bật i nhan).

Tại Công văn số 586/GTVT-HTGT&ATGT ngày 16/3/2020 của Sở Giao thông Vận tải thành phố Hải Phòng ác định: Đoạn đường nơi ảy ra tai nạn là đường hai chiều trong khu đông dân cư, tốc độ tối đa cho phép xe cơ giới tham gia giao thông là 50km/h. Tại thời điểm ảy ra tai nạn, xe ô tô BKS 29C-424.61 đi với tốc độ khoảng từ 52km/h đến 62km/h, là vượt quá tốc độ cho ph p từ 02km/h đến 12km/h.

Tại Bản cáo trạng số 42/CT-VKS-HB ngày 10/7/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố DVK về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo DVK khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố; phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện, Bản kết luận giám định t thi và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án

Người đại diện hợp pháp của bị hại là chị G xác nhận bị hại ông BH và bà BH1 là bố mẹ chị. Về hành vi bị cáo DVK khai là đúng với nội dung bản cáo trạng đã nêu; chị G đồng ý với Bản kết luận giám định t thi số 47 và 48 ngày 16/3/2020 của Trung tâm Pháp y Hải Phòng và Bản kết luận điều tra số 40 ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng. Chị G ác nhận gia đình bị cáo DVK và Công ty NLQ đã bồi thường số tiền 300.000.000 đồng cho gia đình chị. Nay, gia đình chị G không yêu cầu bồi thường gì khác và in giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo DVK.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH NLQ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Công ty ác nhận DVK là lái e của Công ty theo hợp đồng lao động đã ký. Về việc ngày 08/3/2020 bị cáo điều khiển e ô tô đầu k o BKS 29C-424.61 gây tai nạn, đại diện Công ty và gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện gia đình của bị hại. Nay, Công ty không yêu cầu gì đối với bị cáo DVK.

Người làm chứng anh NLC1 trình bày ý kiến thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, được thể hiện trong hồ sơ vụ án và cam đoan là đúng.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng t : Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo DVK với mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Các bên đã tự giải quyết ong về trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng t không t. Trả tại phiên tòa cho bị cáo 01 Giấy ph p lái e hạng FC số 310093012926 mang tên DVK. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng t

em t giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản kết luận giám định t thi và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở ác định: Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 08/3/2020, DVK điều khiển e ôtô đầu k o BKS 29C-424.61 đi trên đường Hải Phòng thuộc phường H, quận I, thành phố Hải Phòng theo hướng từ Hà Nội về Hải Phòng. Khi đi đến đoạn đường trước c a nhà số 427 đường H, DVK điều khiển e đi quá tốc độ cho ph p và vượt e ôtô khác cùng chiều không đảm bảo an toàn, gây tai nạn giao thông. Hậu quả làm ông BH, bà BH1 bị e ô tô của DVK điều khiển đâm vào, t vong tại chỗ do sốc đa chấn thương. Như vậy, hành vi của DVK đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

Do hậu quả tai nạn làm ông BH và bà BH1 chết nên hành vi của DVK thuộc trường hợp “Làm chết 02 người..." quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Tính chất vụ án là nghiêm trọng gây hậu quả chết hai người, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, không những âm phạm đến trật tự an toàn giao thông gây hậu quả nghiêm trong mà còn âm hại đến tính mạng của người khác nên cần phải

lý theo pháp luật để cải tạo giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và lượng hình:

Bị cáo DVK không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Nhân thân bị cáo DVK chưa có tiền án, tiền sự; lần phạm tội này là lần đầu với lỗi vô ý. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Sau khi gây tai nạn, bị cáo đến Công an phường Hùng Vương đầu thú, đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 300.000.000 đồng; gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có anh trai được Nhà nước tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, căn cứ lời khai của bị cáo, Biên bản khám nghiệm hiện trường và Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, Hội đồng t

t: Đoạn đường nơi ảy ra tai nạn không có biển cảnh báo được sang đường, không có vạch sơn mũi tên chỉ được ph p rẽ sang đường; nhưng bị hại điều khiển e mô tô thiếu quan sát, không phát tín hiệu chuyển hướng e khi rẽ sang đường nên cần ác định phía bị hại có lỗi một phần.

Trên cơ sở đánh giá toàn diện tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội, mục đích của hình phạt và nguyên tắc lý đối với người phạm tội. Xét, hành vi vi phạm của bị cáo là nguy hiểm nên cần buộc bị cáo cách ly ã hội một thời gian nhất định mới bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên có thể em t cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong ã hội. Do vậy, mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo DVK và Công ty NLQ đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền là 300.000.000 đồng. Nay, người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì khác về việc bồi thường nên Hội đồng t không xét.

- Về lý vật chứng và áp dụng biện pháp ngăn chặn:

Xe ôtô đầu k o BKS 29C-424.61 và các giấy tờ có liên quan của e ô tô đã được Cơ quan điều tra trả lại cho Công ty NLQ là chủ sở hữu hợp pháp theo Quyết định lý vật chứng số 13 ngày 31 tháng 3 năm 2020; Xe môtô BKS 16H9-0957 và các giấy tờ có liên quan của e mô tô đã được Cơ quan điều tra trả lại cho đại diện gia đình ông BH và bà BH1 theo Quyết định lý vật chứng số 13 ngày 31/3/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng. Vì vậy, Hội đồng t không t.

Đối với 01 Giấy ph p lái e hạng FC số 310093012926 mang tên DVK do Sở Giao thông Vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 10/6/2016 (chuyển theo hồ sơ vụ án). Xét, đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần tuyên trả lại cho bị cáo DVK tại phiên tòa.

Cần áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo DVK theo quy định tại Điều 109, Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về án phí:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự; phạt: DVK 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Thời hạn tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt giam thi hành án; trừ cho bị cáo 09 ngày do bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2020 đến ngày 17/3/2020.

- Căn cứ vào Điều 109; Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Cấm bị cáo DVK đi khỏi nơi cư trú. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo DVK được tính kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

- Về lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Trả tại phiên tòa 01 (một) Giấy ph p lái e hạng FC số 310093012926 mang tên DVK do Sở Giao thông Vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 10/6/2016 (chuyển theo hồ sơ vụ án) cho bị cáo DVK.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo DVK phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ