vanban.org

Bản án 58/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Tuyên án 30/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lan Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lan Ch 01 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 22/4/2020. Tịch thu tiêu huỷ 1,8419 gam Methamphetamine hoàn lại sau khi trích giám định, không lưu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Lan Ch tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lan Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2020/HS-ST
Ngày 30 – 7 – 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Văn Điệp

2. Ông Trần Quốc

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Việt Xô, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Dương Việt Khái – Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên toà.

Ngày 30 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Lan Ch, sinh năm: 1991, tại phường 6, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Nơi đăng ký thường trú: Khóm 1, phường 6, thành phố C, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Khóm 6, phường 6, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Việt T và bà: Nguyễn Kiều M; chồng: Huỳnh Trung Th (đã ly hôn; con: 01 người; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/4/2020 cho đến nay.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quen biết từ trước với đối tượng tên Mẽo (chưa rõ lai lịch) nên khoảng 16 giờ ngày 22 tháng 4 năm 2020, Mẽo đến phòng trọ của Nguyễn Thị Lan Ch thuộc khóm 6, phường 6, thành phố C, tỉnh Cà Mau chơi. Tại đây, Mẽo cho Ch 01 bịch ma túy được quấn băng keo màu đen để sử dụng. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Ch thuê xe ôm của Phạm Anh T đi từ nhà trọ của Ch đến huyện Trần Văn Thời định gặp đối tượng tên Trắng (chưa rõ lai lịch) để rủ Trắng sử dụng ma túy chung. Trước khi rời khỏi phòng trọ, Ch lấy bịch ma túy giấu vào trong lai quần Jean bên trái của mình đang mặc. Khi đến Trạm thu phí cầu Dân Sinh thuộc ấp Công Nghiệp, xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, Ch bị Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 04 – Bộ tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Trần Văn Thời và Công an xã Lợi An bắt quả tang Ch đang tàng trữ ma túy trong người.

Vật chứng thu giữ: 01 bịch nylon màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen đã hư hỏng; 01 điện thoại di động màu xanh đen hiệu Realme, sim số 0919.391.539.

Tại Kết luận giám định số: 50/GĐMT-PC09 ngày 26/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Mẫu tinh thể được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,9283 gam, loại Methamphetamine.

Hoàn lại đối tượng sau giám định: 1,8419 gam mẫu tinh thể.

Tại cáo trạng số: 61/CT-VKS ngày 27/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Thị Lan Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Lan Ch theo cáo trạng số: 61/CT-VKS ngày 27 tháng 6 năm 2020 và đề nghị:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lan Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lan Ch từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ khối lượng 1,8419 gam mẫu vật Methamphetamine hoàn lại sau khi trích giám định, không lưu; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen đã hư hỏng; 01 điện thoại di động màu xanh đen hiệu Realme, sim số 0919.391.539.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Theo đó thể hiện: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22/4/2020, bị cáo Nguyễn Thị Lan Ch đã có hành vi tàng trữ 1,9283 gam Methamphetamine, là chất ma túy nhằm mục đích sử dụng tại ấp Công Nghiệp, xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Các tài liệu, chứ ng cứ Cơ quan điều tra thu thâ ̣p trong quá trinh điều tra

̀ gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản về việc thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy; Bản tự khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được phù hợp với kết luận giám định, biên bản hỏi cung bị can, kết luận điều tra. Hành vi của bị cáo là tàng trữ 1,9283 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng nên hành vi đó cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, đúng với đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên toà và đúng với Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Bản thân bị cáo là người nghiện ma tuý nên nhận thức rất rõ tác hại của ma tuý ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, đời sống của con người, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội, làm suy thoái nòi giống và có thể dẫn đến các căn bệnh truyền nhiễm khác; gây mất an ninh trật tự trên địa bàn xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng, nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Bị cáo đã có gia đình, có con nhỏ, lẽ ra bị cáo phải biết kiềm chế bản thân, quyết tâm cai nghiện để cải sửa lỗi lầm của mình, lao động chân chính để phụ giúp gia đình, nuôi con, làm việc ích cho xã hội. Thế nhưng, bị cáo không biết rèn luyện, tu dưỡng, cải sửa bản thân mà còn thực hiện hành vi phạm tội.

Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi bị cáo đã gây ra nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời nhằm cảnh báo, tuyên truyền với những ai không chấp hành quy định của pháp luật, gây tác hại đến sức khỏe con người, làm ảnh hưởng xấu đến xã hội, nhằm phòng ngừa hậu quả có thể xảy ra.

Song, xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; cha ruột bị cáo tham gia công tác xã hội địa phương, được tặng thưởng nhiều Giấy khen và được Bộ Trưởng Bộ Công an tặng kỷ niệm chương Bảo vệ an ninh Tổ quốc nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, xét thấy việc đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

Về vật chứng: Xét thấy số ma tuý là Methamphetamine sau khi trích giám định, hoàn lại trọng lượng 1,8419 gam là vật phạm pháp cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen đã hư hỏng; 01 điện thoại di động màu xanh đen hiệu Realme, sim số 0919.391.539 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo là có cơ sở.

Đối với người thanh niên tên Mẽo cho bị cáo bịch ma túy để sử dụng và người tên Trắng bị cáo định rủ sử dụng ma túy chung, hiện nay không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị tách ra giao Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Trần Văn Thời tiếp tục xác minh nếu có căn cứ xử lý sau là phù hợp.

Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; căn cứ Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lan Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lan Ch 01 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 22/4/2020.

- Tịch thu tiêu huỷ 1,8419 gam Methamphetamine hoàn lại sau khi trích giám định, không lưu.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen đã hư hỏng; 01 điện thoại di động màu xanh đen hiệu Realme, sim số 0919.391.539.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/6/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Ch cục Thi hành án huyện Trần Văn Thời).

- Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Cỡ chữ