- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu Đ tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: b cáo Trần Hữu Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2020/HS-ST Ngày: 28-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Trần Văn Cảnh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Th Hà.
2. Ông Quách Xuân Luyện.
- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Th Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: ông V Đình Tư ng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2020, tại trụ s Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020, theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 61/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2020, đối với b cáo:
Trần Hữu Đ - sinh năm 1998; nơi cư trú: thôn NC, xã LC, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Lê Th H; v : Trần Th Q, con: 01 con sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: ngày 23/10/2018 b Công an huyện Thanh Liêm xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”; nhân thân: ngày 18/01/2016 Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hư ng án treo thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt ngày 18/7/2017, chấp hành xong án phí ngày 25/3/2016; ngày 08/01/2018 b Công an huyện Thanh Liêm xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”; b cáo b bắt, tạm giữ từ ngày 02/4/2020, đến ngày 07/4/2020 chuyển tạm giam; b cáo đang b tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam, có m t tại phiên tòa.
- Người có quyền l i, ngh a vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Lê Văn H1 - sinh năm 1991; nơi cư trú: t dân phố ĐX, phường TC, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; vắng m t.
+ Cháu Đinh Văn T1 - sinh năm 2004; ch : thôn LN, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam; vắng m t;
Người đại diện h p pháp của cháu Đinh Văn T1: ông Trần Tr ng Kim - Chức vụ: Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã Thanh Hương, huyện TL, tỉnh Hà Nam; vắng m t.
- Người chứng kiến: ông Chu Bá B - sinh năm 1967; vắng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 01 giờ sáng ngày 02/4/2020, Trần Hữu Đ đang ki ốt số 10 thuộc ch Chằm, xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, nhắn tin qua mạng xã hội Facebook cho một người tên T2 (còn g i là TA, nhà gần cây xăng ĐA thuộc xã TP, huyện TL, tỉnh Hà Nam, là người Đ quen biết từ trước) hỏi “anh có ngựa không” thì T2 nhắn tin lại "Có", Đ hỏi tiếp: "Có cho thử trước không?", T2 đồng ý và bảo Đ đến nhà T2. Sau khi nhắn tin cho T2 xong, Đ tiếp tục nhắn tin qua mạng xã hội Facebook cho một người bạn tên H1 (nhà Ninh Bình, do ngày 01/4/2020 có lên Hà Nam chơi và uống rư u cùng Đ, bản thân Đ không biết tên tuối đ a chỉ của H1) đến đón Đ, nhưng do H1 đã về Ninh Bình, nên H1 nhắn lại ra cầu Chằm thuộc xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam có bạn H1 sẽ đến đón. Sau đó, Đ một mình đi bộ ra cầu Chằm thì thấy có một xe ô tô loại Toyota màu đen (Đ không nhớ biển kiểm soát), trong xe có 03 người (Đ đều không quen biết) đang đứng đ i, Đ lên xe đi nhờ. Khi đi đến khu vực xã Thanh Phong, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam thì Đ xuống xe đi bộ một mình vào nhà T2. Lúc này, T2 đang nhà. G p nhau, T2 đưa cho Đ 01 viên ma túy t ng h p dạng "ngựa". Đ cầm tay phải rồi ra xe tiếp tục đi về nhà tr mà trước đó Đ và Lê Văn H1 - thuê của nhà ch Nguyễn Th Thúy - sinh năm 1982 trú tại thôn Lác Nội, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam. Về đến nhà tr thì Đ xuống xe, còn 03 người bạn của H1 đi ô tô về hướng Ninh Bình. Khi vào trong nhà tr , Đ thấy H1, ch Nguyễn Th VA; anh Đinh Văn T1; ch Bùi th Khánh N; Trương Th D đang ngủ nên Đ để viên ma túy dạng "ngựa" vừa lấy của T2 để bờ tường trong nhà tr và tiếp tục nhắn tin qua mạng xã hội Facebook cho một người tên Tuấn Nam Đ nh hỏi mua 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền ma túy đá. Tuấn đồng ý và thống nhất cả hai cùng đi g p nhau đâu thì giao d ch đó. Sau đó, Đ lấy xe mô tô biển kiểm soát: 90H7 - 0... của H1 để trong phòng và điều khiển đến đường QL 21A sau đó đi hướng Phủ Lý - Nam Đ nh khi đi đến đ a phận thuộc huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (Đ không xác đ nh đư c v trí chính xác) thì g p T đi xe mô tô Ablade màu trắng (Đ không nhớ biển kiểm soát). G p nhau, T đưa cho Đ một gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng, biết là ma túy, nên Đ cầm cho vào ví của mình rồi lấy tiền đ nh trả thì T bảo về mua thẻ điện thoại gửi cho T. Đ điều khiển xe đi về, còn T đi đâu Đ không biết. Trên đường về, Đ có g i điện nhờ Đinh Văn T1, (là nhân viên làm cho Đ và cùng nhà tr với Đ thôn Lác Nội, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam) mua hộ 300.000 đồng 03 thẻ điện thoại Viettel loại 100.000 đồng. Do có sẵn thẻ điện thoại nên T1 đã lấy 03 thẻ điện thoại Viettel loại 100.000 đồng để trên bàn. Đến khoảng 07 giờ sáng ngày 02/4/2020, Đ về đến phòng tr thấy có 03 thẻ điện thoại để trên m t bàn, Đ liền chụp ảnh gửi cho T qua mạng xã hội Facebook, sau khi chụp xong Đ xóa tất cả tin nhắn, cuộc g i c ng như ảnh chụp thẻ điện thoại đã gửi cho Tuấn, rồi g i H1 dậy và rủ H1 lại cùng sử dụng ma túy thì H1 đồng ý. Sau đó Đ lấy viên ma túy "ngựa" cho vào mảnh giấy bạc rồi lấy bật lửa đốt lên và cùng H1 sử dụng bằng hình thức hít trực tiếp vào cơ thể. Sử dụng hết viên ma túy "ngựa", Đ tiếp tục lấy ma túy đá mua đư c của T chia ra 02 phần: phần thứ nhất Đ cho vào túi ni lông có mép dán viền màu xanh và cho vào túi ni lông màu trắng ban đầu, sau đó cất vào ví để bàn nơi sử dụng ma túy; phần còn lại Đ cho vào 01 chiếc cóng thủy tinh c ng để trên bàn rồi dùng bật lửa đốt và cùng H1 sử dụng bằng hình thức hút trực tiếp vào cơ thể. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi Đ và H1 đang sử dụng ma túy thì b lực lư ng Công an huyện Thanh Liêm phối h p với Công an xã Thanh Hương kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
* Tài sản, vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm:
- Thu trên m t bàn nhựa trong nhà tr : 01 chiếc ví màu nâu có ghi dòng chữ VERSACE bên trong có túi ni lông màu trắng có mép dán viền màu xanh KT (2 x 1,5)cm bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng (nghi là Methamphetamine), đư c niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01, 01 túi ni lon màu trắng có kẹp nhựa viền màu trắng kích thước (4 x 5,5) cm b c ngoài túi ni lông màu trắng có mép dán viền màu xanh KT (2 x 1,5)cm, bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng đư c niêm phong trong phong bì ký hiệu QT07 và số tiền 500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen đư c niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đư c cấu tạo có phần đế là cốc thủy tinh có đường kính 75cm, phần đáy cốc đư c gắn liền với ½ chai nước màu trắng có nắp màu vàng phần nối giữa chai nước và cốc thủy tinh đư c cố đ nh bằng băng keo màu đen, trên nắp chai nhựa màu vàng có một l thủng tròn tại l thủng này có một đoạn ống nhựa dài 85cm đư c nối bằng các đoạn ống nhựa màu xanh và tím, đầu ống nhựa màu tím đư c nối một đoạn ống thủy tinh màu trắng dài 8cm, tại v trí thân ½ chai nhựa cách m t nắp chai màu vàng 8,5cm có một l thủng tại v trí l thủng này có 01 vật bằng thủy tinh không rõ hình, một đầu có khối hình cầu r ng, bên trong hình cầu có l thủng hình tròn đường kính 0,6cm, bề m t phía trong hình cầu có bám dính chất màu nâu đen (nghi là Methamphetamine), riêng vật thủy tinh này đư c lấy ra và đư c niêm phong trong phong bì ký hiệu QT 03; 01 đoạn giấy bạc kích thước (18x2)cm trên bề m t có bám dính chất màu đen (nghi là Methamphetamine) đư c niêm phong trong phong bì ký hiệu QT 06; 01 bật lửa màu xanh.
- Thu trong túi quần trước bên trái của Lê Văn H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám đư c niêm phong trong phong bì ký hiệu lần lư t là QT 04 và QT 05.
Cùng ngày Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm đã tiến hành khám xét khẩn cấp ch của Trần Hữu Đ tại thôn Lác Nội, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam, quá trình khám xét thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki BKS 90H7 - 0.... Ngoài ra tiến hành khám xét tại ch của Trần Hữu Đ tại ki ốt số 10, ch Chằm thôn Chằm Vải, xã Liêm Thuận huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam và ch của Trần Hữu Đ tại thôn NC, xã Liêm Cần, huyện TL, tỉnh Hà Nam, song không thu giữ đồ vật tài sản gì.
Tại bản KLGĐ số 57/PC 09-MT ngày 06/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,176 g (không phẩy một trăm bảy mươi sáu gam) loại Methamphetamine; 01(một) cóng thủy tinh màu trắng phần đầu có một hình tròn trong phong bì ký hiệu QT03 gửi giám định có bám dính ma túy loại Methamphetamine; 01 (một) mảnh giấy bạc màu trắng trong phong bì ký hiệu QT06 gửi giám định có bám dính ma túy loại Methamphetamine; 01(một) túi nilon màu trắng trong phong bì ký hiệu QT07 gửi giám định có bám dính ma túy loại Methamphetamine”.
Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 8/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố Trần Hữu Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm giữ nguyên quan điểm truy tố đối với b cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến b sung ho c thay đ i gì. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự c ng như nhân thân của b cáo. Đề ngh Hội đồng xét xử: Tuyên bố b cáo Trần Hữu Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự - Xử phạt Trần Hữu Đ từ 30 đến 36 tháng tù; miễn hình phạt b sung cho b cáo. Buộc b cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh. Xử lý vật chứng: t ch thu tiêu hủy số Methamphetamine, 01 cóng thủy tinh, 01 mảnh giấy bạc, 01 túi ni lon màu trắng là mẫu vật hoàn trả QT 01, QT03, QT 06, QT07; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 ví da màu nâu, 01 bật lửa là vật cấm lưu hành và là công cụ phạm tội do không có giá tr sử dụng, nên cần t ch thu tiêu hủy; t ch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng Đ dùng để mua ma túy đư c đối trừ trong số tiền 500.000 đồng của b cáo còn lại trả cho b cáo số tiền 200.000 đồng.
- B cáo Trần Hữu Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.
Tại phiên toà c ng như tại Cơ quan điều tra, Trần Hữu Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của b cáo đư c thẩm tra tại phiên tòa, phù h p với chính lời khai của b cáo tại cơ quan điều tra, phù h p với lời khai của người có quyền l i và ngh a vụ liên quan, phù h p với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám đ nh và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ s để kết luận:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/4/2020, tại nhà tr cho thuê của ch Nguyễn Th Thúy thôn Lác Nội, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam, Đ đang sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức hút đồng thời cất giữ trái phép 0,176 g (không phẩy một trăm bảy mươi sáu gam) ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì b lực lư ng Công an huyện Thanh Liêm phối h p với Công an xã Thanh Hương phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của b cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt đư c quy đ nh tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của b cáo là nguy hiểm cho xã hội, hàng vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hư ng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại đ a phương. Hành vi này nếu không ngăn ch n k p thời sẽ kéo theo nhiều tệ nạn, c ng như tội phạm nguy hiểm khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy Hội đồng xét xử thấy cần thiết ra bản án nghiêm khắc tương xứng hành vi phạm tội của b cáo.
Trong lư ng hình:
Về tình tiết tăng n ng: b cáo không phải ch u tình tiết tăng n ng nào.
Về nhân thân: b cáo là người có nhân thân rất xấu nên Hội đồng xét xử c ng xem xét đến yếu tố này khi lư ng hình.
Về tình tiết giảm nhẹ: b cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đư c hư ng tình tiết giảm nhẹ quy đ nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của b cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly b cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo b cáo tr thành công dân lương thiện và phòng ngừa chung.
Về hình phạt b sung: Xét thấy b cáo là người nghiện ma túy, lao động tự do, không có thu nhập n đ nh; nên miễn hình phạt b sung là phạt tiền đối với b cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki BKS 90H7 - 0.... Quá trình điều tra xác đ nh chiếc xe mô tô trên là tài sản h p pháp của anh Nguyễn Tuấn Linh - sinh năm 1985, trú tại t dân phố Quỳnh Chân, phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Ngày 28/3/2020 anh Linh cho Lê Văn H1 mư n chiếc xe trên làm phương tiện đi lại, ngày 02/4/2020 Đ đã lấy chiếc xe đó để đi mua ma túy, H1 không biết. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, quá trình điều tra xác đ nh là tài sản h p pháp của Lê Văn H1 không liên quan đến vụ án. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm đã ra Quyết đ nh xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki BKS 90H7 - 0... cho anh Nguyễn Tuấn Linh; trả lại 02 chiếc điện thoại các loại cho Lê Văn H1 là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của b cáo quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa xác đ nh là tài sản h p pháp của b cáo không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho b cáo là phù h p pháp luật
- Đối với 01 điện thoại di động Redmi, quá trình điều tra xác đ nh Đ đã dùng chiếc điện thoại trên để liên lạc mua ma túy đư c niêm phong trong phong bì ký hiệu KT01, nên cần t ch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
- Đối với số ma túy, 01 cóng thủy tinh, 01 mảnh giấy bạc, 01 túi ni lon màu trắng là mẫu vật hoàn trả QT01, QT03, QT06, QT07; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 ví da màu nâu, 01 bật lửa là vật cấm lưu hành và là công cụ phạm tội do không có giá tr sử dụng, nên cần t ch thu tiêu hủy.
- B cáo dùng 300.000 đồng để mua ma túy nhưng chưa trả số tiền trên và đã nhờ T1 mua thẻ điện thoại để trả; nay T1 không yêu cầu b cáo trả lại số tiền trên nên xác đ nh số tiền 300.000 đồng b cáo dùng mua ma túy liên quan đến tội phạm, nên cần truy thu sung ngân sách Nhà nước.
Các vấn đề khác: về nguồn gốc số ma túy c ng như người đã bán ma túy cho Đ: quá trình điều tra Đ khai nhận số ma túy mà Đ có để cùng H1 sử dụng và số ma túy mà Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm thu giữ trong quá trình bắt quả tang là do trước đó Đ nhắn tin qua facebook đến một người tên Tuấn Nam Đ nh, sau khi nhắn tin xong Đ đã xóa tin nhắn, hình ảnh trong điện thoại, sau đó Đ đi đến khu vực huyện Bình Lục g p Tuấn để mua ma túy (Đ không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể chỉ biết tên là Tuấn khoảng 40 đến 50 tuổi, cao khoảng 1m65, da trắng dáng người đậm đi xe Ablade màu trắng Đ không nhớ biển số xe) với số tiền là 300.000 đồng. Ngoài lời khai của Đ không còn tài liệu chứng cứ nào khác nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm không có căn cứ để xác minh làm rõ nguồn gốc số ma túy đã thu giữ c ng như người đã bán ma túy cho Đ.
Đối với viên ma túy t ng h p dạng “ngựa”, quá trình điều tra Đ khai nhận viên ma túy trên là do Đ nhắn tin qua facebook hỏi mua và sau đó Đ xin một viên dùng thử trước của một người tên T2 (còn gọi là T2 An, cao khoảng 1m70, dáng người cân đối, tóc dài, da trắng nhà gần cây xăng Đức An). Xác minh tại Công an xã Thanh Phong xác đ nh người có tên và đ c điểm, đ a chỉ nêu trên là Trần Văn T2 - sinh năm 1986, trú tại thôn Ba Làng, xã Thanh Phong, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm đã nhiều lần triệu tập nhưng T2 không có m t để làm việc. Ngoài ra sau khi nhắn tin qua mạng xã hội facebook Đ đã xóa tin nhắn và không nhớ nick facebook của T2. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm tiếp tục điều tra xác minh khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau là đúng với quy đ nh của pháp luật.
Đối với hành vi Trần Hữu Đ rủ và cùng Lê Văn H1 sử dụng ma túy trái phép tại phòng tr , quá trình điều tra xác đ nh Đ và H1 cùng nhau thuê nhà tr của ch Nguyễn Th Thúy - sinh năm 1982, trú tại thôn Lác Nội, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam, sau đó Đ là người đứng lên giao d ch nhưng chưa ký h p đồng sau khi thuê Đ đã giao cho H1 quản lý phòng tr , bản thân H1 là người nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự về hành vi liên quan đến ma túy, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Trần Hữu Đ về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy là đúng với quy đ nh của pháp luật.
Đối với ch Nguyễn Th Thúy - sinh năm 1982, trú tại thôn Lác Nội, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam là người cho Đ và H1 thuê phòng tr . Quá trình điều tra xác đ nh sau khi cho thuê phòng ch Thúy không biết Đ và H1 sử dụng trái phép chất ma túy, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm không xem xét trách nhiệm đối với ch Thúy là có căn cứ và đúng pháp luật.
Đối với Lê Văn H1 là người đã sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Đ, Công an huyện Thanh Liêm đã ra Quyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính, xử phạt 750.000 đồng đối với Lê Văn H1 về hành vi sử dụng trái trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 21 Ngh đ nh 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ là đúng pháp luật.
Đối với cháu Đinh Văn T1 là người đư c Đ g i điện nhờ mua hộ 300.000 đồng thẻ điện thoại để trả tiền mua ma túy. Quá trình điều tra xác đ nh T1 không biết Đ nhờ mua thẻ điện thoại để làm gì vì thi thoảng Đ có nhờ T1 mua hộ thẻ điện thoại, m t khác Đ không nói cho T1 biết mua thẻ điện thoại để trả tiền mua ma túy nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm không xem xét trách nhiệm hình sự đối với T1 là có căn cứ.
Đối với ch Nguyễn Th VA, ch Bùi Khánh N và ch Trương Th D, quá trình điều tra xác đ nh ch VA, ch N và ch D không biết Đ và H1 sử dụng ma túy và không biết Đ cất giữ trái phép ma túy nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm không xem xét xử lý đối với ch VA, ch N và ch D là có căn cứ.
Đối với người tên H1 và ba người bạn của H1 là người Đ g i điện để đi nhờ ô tô sau đó đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác đ nh Đ không biết tên tu i đ a chỉ của H1, sau khi g i điện cho H1, Đ đã xóa số điện thoại, 03 người bạn của H1, Đ không quen biết, biển kiểm soát của xe ô tô Đ không nhớ, ngoài lời khai của Đ không còn tài liệu nào khác nên Cơ quan CSĐT- Công an huyện Thanh Liêm không có căn cứ để xác minh.
Về án phí: b cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106; 136; 329; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
1. Tuyên bố: b cáo Trần Hữu Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt b cáo Trần Hữu Đ 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b tạm giữ 02/4/2020.
3. Xử lý vật chứng:
- Trả lại cho Trần Hữu Đ số tiền 500.000 đồng.
- T ch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Redmi niêm phong trong phong bì ký hiệu KT01.
- Truy thu số tiền 300.000 đồng đối với b cáo sung ngân sách Nhà nước.
- T ch thu tiêu hủy số ma túy, 01 cóng thủy tinh, 01 mảnh giấy bạc, 01 túi ni lon màu trắng là mẫu vật hoàn trả QT01, QT03, QT06, QT07; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 ví da màu nâu, 01 bật lửa.
(Chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/7/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Liêm với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm và ủy nhiệm chi số 33 lập ngày 10/7/2020).
4. Án phí: buộc b cáo Trần Hữu Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: B cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền l i, ngh a vụ liên quan đến vụ án vắng m t tại phiên tòa, đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đư c bản án ho c kể từ ngày bản án đư c niêm yết.
“Trường h p bản án, quyết đ nh đư c thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Thanh Liêm; - Công an huyện Thanh Liêm; - Chi cục THA DS huyện Thanh Liêm; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - S Tư pháp tỉnh Hà Nam; - C ng thông tin điện tử của Tòa án; - B cáo; - Người có quyền l i, ngh a vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Cảnh |