vanban.org

Bản án 58/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 15/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thùy D phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt Hoàng Thùy D 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hoàng Thùy D cho UBND xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thùy Dung bị kết tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Thùy D phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2020/HS-ST
Ngày: 15-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Công Định

- Thư ký phiên toà: Bà Ngọ Thị Thanh Hà – Thư ký TAND huyện Lục Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 09 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 55/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 09 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Thùy D, sinh năm 1971. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện LN, tỉnh BG; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/12; con ông Hoàng Ngọc M (đã chết) và con bà Giáp Thị T, sinh năm 1935; Chồng: Nông Mạnh C (đã chết); Bị cáo có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 15/6/2020 đến 24/6/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố V, TT Đ, huyện LN, tỉnh BG.

- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: Phố T, TT Đ, huyện LN, tỉnh BG

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Thùy D, sinh năm 1971, trú tại thôn T, xã T, huyện LN, tỉnh BG mở cửa hàng tạp hóa tại nhà. Do gia đình hoàn cảnh nên D lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để ghi lô đề cho khách từ tháng 01/2019. D ghi lô đề và tự ôm cáp để tính thắng thua cho khách nhằm thu lời bất chính. Theo D khai, hàng ngày khi có khách đến đặt vấn đề mua các số lô đề thì Dùng lấy một mảnh giấy nhỏ từ vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi đưa cho khách tự ghi các số lô đề muốn mua, tương ứng với số tiền rồi D cầm mảnh giấy ghi vào quyển sổ có nhãn hiệu Hải Tiến, có chữ K.POP NOTEBOOK, loại 120 trang (hoặc khách đọc số lô đề cần mua D ghi vào sổ rồi D lấy mảnh giấy nhỏ để khách tự ghi số lô đề đã mua của D để theo dõi), rồi sau đó D yêu cầu khách ký vào cạnh những số lô đề đã mua ở sổ của D để theo dõi tính thắng thua.

Quá trình điều tra xác định, D ghi các dạng đề gồm:

- Dạng thứ nhất (còn gọi là đề đặc biệt, đề nhất to): Người chơi chọn đặt cược 2 số cuối của giải đặc biệt hoặc 2 số cuối của giải nhất của kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc để đặt cược với một số tiền nhất định. Nếu kết quả chọn trùng với kết quả xổ số Miền Bắc thì người chơi trúng cược sẽ được trả gấp 70 lần số tiền đặt cược, nếu thua cược thì mất số tiền đó.

- Dạng thứ hai (còn gọi là dạng đề lô 2 số): Người chơi đặt cược 2 số cuối của tất cả các giải kết quả xổ số được tính bằng điểm, mỗi điểm người chơi phải trả 23.000 đồng/ 1 điểm. Nếu trúng cược sẽ được trả 80.000đ/1 điểm/1 nháy, nếu thua cược thì mất số tiền cược đó.

- Dạng thứ ba (còn gọi là lô xiên) gồm xiên 2, xiên 3, xiên 4: Người chơi đặt cược 2 cặp số hoặc 3 cặp số hoặc 4 cặp số để cược với hai số cuối cùng của tất cả các giải xổ số kiến thiết Miền Bắc. Nếu trúng sẽ được trả thưởng gấp 10 lần số tiền đặt cược đối với đánh lô xiên 2, trả thưởng gấp 40 lần đối với xiên 3, trả thưởng gấp 100 lần đối với lô xiên 4.

Khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 15/6/2020, Nguyễn Văn H, sinh năm 1977, trú tại tổ dân phố Vườn Hoa, thị trấn Lục Nam (nay là thị trấn Đồi Ngô), huyện Lục Nam và Nguyễn Văn H1, sinh năm 1976, trú tại phố Thanh Hưng, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam đến cửa hàng tạp hóa của D rồi Hải, Hoàn đặt vấn đề mua số lô đề, D đồng ý. Nguyễn Văn H mua các số lô 16, 61, 57, 75 mỗi số 30 điểm; số đề 12, 21 mỗi số 50.000 đồng với tổng số tiền 2.860.000 đồng. Sau khi Hải đọc cho D các số lô đề để D ghi vào sổ thì D yêu cầu Hải ký vào quyển sổ rồi D xé một mảnh bìa đưa cho Hải để Hải tự chép lại các số lô, đề đã mua để tự theo dõi. Sau khi Hải thanh toán tiền cho D thì Nguyễn Văn H1 tiếp tục hỏi mua số lô là 25, 52 mỗi số 50 điểm; số đề 25, 52 mỗi số 50.000 đồng với tổng số tiền 2.400.000 đồng. Khi Hoàn đang thanh toán trả tiền cho D thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ vật chứng gồm 01 quyển số ghi chữ K.Pop NOTEBOOK, loại 120 trang, bên trong có ghi nhiều chữ và số (gồm 26 tờ có chữ và số); 01 bút chữ A; 01 vỏ cây thuốc lá loại thuốc Thăng Long đã bị xé.

Kiểm tra thu giữ trên người:

- Hoàng Thùy D gồm: Số tiền 7.117.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105; 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG SM-J5;

- Nguyễn Văn H gồm: 01 mảnh bìa được xé từ vỏ cây thuốc lá Thăng Long, bên trên ghi các số và chữ; 01 mảnh giấy màu trắng, có ghi chữ và số;

- Nguyễn Văn H1 gồm: số tiền 2.500.000 đồng; 01 mảnh bìa được xé từ vỏ bao thuốc lá Thăng Long có ghi các con số và chữ; 01 mảnh giấy màu trắng có ghi số và chữ.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Thùy D không phát hiện thu giữ gì.

Tại Kết luận giám định số 739/KL-KTHS ngày 19/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: Chữ viết trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A26 so với chữ viết của Hoàng Thùy D trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M6 là do cùng một người viết ra.

Đối với quyển sổ nhãn hiệu Hải Tiến, có chữ K.POP NOTEBOOK, loại 120 trang: D khai quyển sổ này D dùng để ghi các số lô đề cho khách, đa phần là khách qua đường D không biết tên, tuổi địa chỉ. D cũng không nhớ là ghi số lô đề vào thời gian nào và ghi cho ai. D tự cộng tổng số tiền trong quyển sổ là 175.298.000 đồng là tiền ghi lô đề từ tháng 01/2019 đến nay (gồm cả 5.260.000 đồng tiền bán lô, đề cho Hải, Hoàn ngày 15/6/2020) và đã thanh toán thắng thua cho khách. Quá trình ghi lô đề D xác định từ khoảng tháng 01/2019 đến nay D thu lời được số tiền 17.000.000 đồng. Ngày 17/8/2020, Hoàng Thùy D đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Đối với hành vi ghi số lô đề cho khách D khai không nhớ vào thời gian nào, Công an huyện Lục Nam đã đề nghị Chủ tịch UBND huyện Lục Nam ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với hành vi ghi số lô, đề của Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an huyện Lục Nam đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Hiện Hoàn và Hải đã chấp hành xong.

Đối với số tiền 7.117.000 đồng thu giữ của Hoàng Thùy D khi bắt quả tang, D khai có số tiền có 2.860.000 đồng là tiền ghi số lô, đề cho Hải, còn 4.257.000 đồng là tiền bán hàng của D không liên quan đến việc đánh bạc. Số tiền 2.500.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn H1 thì có 2.400.000 đồng là tiền Hoàn mua số lô, đề của D, còn 100.000 đồng không liên quan đến việc đánh bạc. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho Hoàng Thùy D 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 và 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG SM-J5; trả cho Nguyễn Văn H1 số tiền 100.000 đồng.

Đối với vật chứng gồm số tiền 26.517.000 đồng (17.000.000đ + 7.117.000đ + 2.400.000đ); 01 bút chữ A; 01 vỏ cây thuốc lá Thăng Long chuyển xử lý theo vụ án.

Tổng số tiền Hoàng Thùy D đánh bạc với Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H1 ngày 15/6/2020 là: 5.260.000 đồng.

Với nội D trên, tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKS-LN ngày 30/8/2020 của VKSND huyện Lục Nam đã truy tố Hoàng Thùy D về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Quyết định truy tố đã nêu. Bị cáo xác định khoản tiền 17.000.000 đồng là tiền bán hàng của riêng của bị cáo không liên quan gì tới việc đánh bạc, do khi bị cáo bị bắt bị cáo hoảng sợ nên nộp số tiền này và nói là tiền đánh bạc mà có để được giảm nhẹ hình phạt. Nay bị cáo xin được nhận lại số tiền trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX tuyên bố Hoàng Thùy D phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i; s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS: Xử phạt Hoàng Thùy D từ 06 tháng đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng.

Phạt tiền 10.000.000 đồng.

Giao bị cáo cho UBND xã Trường Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu sung công quỹ số tiền 5.260.000 đồng.

Trả lại bị cáo Hoàng Thị D số tiền 21.257.000 đồng nhưng được giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy 01 bút chữ A và 01 vỏ cây thuốc lá Thăng Long

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Hoàng Thùy D không tranh luận gì với đại diện VKSND huyện Lục Nam, bị cáo Thật chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện Lục Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Văn H1 vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.

Về căn cứ xác định bị cáo có tội Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Quyết định truy tố đã nêu. Lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 15/6/2020, bị cáo Hoàng Thùy D có hành vi bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn H, sinh năm 1977, trú tại tổ dân phố Vườn Hoa, thị trấn Lục Nam (nay là thị trấn Đồi Ngô), huyện Lục Nam và Nguyễn Văn H1, sinh năm 1976, trú tại phố Thanh Hưng, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam với tổng số tiền là 5.260.000 đồng thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, muốn có tiền bằng con đường bất chính nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, VKSND huyện Lục Nam truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến an toàn, trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó việc áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo là cần thiết để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, mẹ bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất", nên HĐXX thấy cần áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. HĐXX thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có lý lịch rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà có bị cáo hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và giao bị cáo cho UBND xã Trường Sơn giám sát bị cáo trong thời gian thử thách án treo cũng đảm bảo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Bị cáo có công ăn việc làm ổn định và có thu nhập, nên HĐXX thấy cần áp dụng Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự để phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo mức phạt là 10.000.000 đồng.

Về vật chứng:

Đối với số tiền 17.000.000đ bị cáo tự nguyện giao nộp trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo khai nhận số tiền này là tiền bị cáo thu lời bất chính từ việc ghi lô, ghi đề từ tháng 01/2019 đến khi bị bắt. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thay đổi lời khai, bị cáo xác định số tiền trên là tiền cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi đánh bạc, bị cáo đề nghị xin lại số tiền trên, nên HĐXX thấy cần áp dụng Điều 106 BLTTHS để trả lại bị cáo số tiền trên nhưng tạm giữ lại đảm bảo cho việc thi hành án.

Đối với số tiền 7.117.000đ thu giữ trên người bị cáo Hoàng Thùy D, trong đó có 2.860.000 đồng là tiền anh Nguyễn Văn H dùng để mua số lô, số đề của bị cáo D, còn 4.257.000 đồng là tiền bán hàng của bị cáo D không liên quan đến việc đánh bạc. Do đó, số tiền 2.860.000 đồng HĐXX thấy cần áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS để tịch thu sung công quỹ Nhà nước còn đối với số tiền 4.257.0000 đồng, HĐXX thấy cần thiết áp dụng Điều 106 BLTTHS trả lại bị cáo D nhưng được giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.

Đối với số tiền 2.400.000đ thu giữ trên người anh Nguyễn Văn H1 đây là số tiền anh Hoàn dùng để mua số lô, số đề của bị cáo D, nên HĐXX thấy cần áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 bút chữ A thu giữ của bị cáo Hoàng Thùy D, đây là chiếc bút bị cáo dùng để ghi số lô, số đề cho người chơi, đây là vật ít giá trị nên HĐXX thấy cần áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 vỏ cây thuốc lá Thăng Long chuyển xử lý theo vụ án đây là vật bị cáo Hoàng Thùy D dùng để ghi số lô, số đề cho những người chơi là vật chứng trong vụ án nên HĐXX thấy cần áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

Đối với hành vi ghi số lô, đề của Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an huyện Lục Nam đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Hiện Hoàn và Hải đã chấp hành xong, nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Đối với hành vi ghi số lô đề cho khách D khai không nhớ vào thời gian nào, Công an huyện Lục Nam đã đề nghị Chủ tịch UBND huyện Lục Nam ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Thùy D được miễn tiền án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Thùy D phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Hoàng Thùy D 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Thùy D cho UBND xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đ cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Thùy D số tiền 10.000.000 đồng.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 của BLTTHS.

Tịch thu sung công quỹ số tiền 5.260.000 đồng.

Trả lại bị cáo Hoàng Thị D số tiền 21.257.000 đồng nhưng được giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy 01 bút chữ A và 01 vỏ cây thuốc lá Thăng Long

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Thùy D không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết công khai./.

Cỡ chữ