vanban.org

Bản án 58/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 16/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguy n Thị Th y N phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật hình sự n m 2015 sửa đ i, b sung n m 2017, xử phạt: Bị cáo Nguy n Thị Th y N 20.

Về xử lý vật ch ng: áp dụng Điều 47; Điều 48 của BLHS; C n c Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.700.000 bị cáo đ dùng vào việc đánh bạc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thúy Nga phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguy n Thị Th y N phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật hình sự n m 2015 sửa đ i, b sung n m 2017, xử phạt: Bị cáo Nguy n Thị Th y N 20.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự n m; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật hình sự n m
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2020/HSST
Ngày: 16/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮKMIL, TỈNH ĐẮKNÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ng Nguy n Th Th ng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguy n Duy Chấn, ng Đỗ Xuân Tốn

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Kim Tuấn – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k N ng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: ng Nguy n V n Th ng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 n m 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k N ng xét xử c ng khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 65/2020/HSST, ngày 30 tháng 10 n m 2020 theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 n m 2020 đối với bị cáo:

Nguy n Thị Th y N; sinh n m 1982; Tên gọi khác: không; nơi sinh: tỉnh Gia Lai; Nơi đ ng ký HKTT: T 03, phư ng , thị x K, tỉnh L; chỗ ở trước khi phạm tội: T dân phố 08, thị trấn M, huyện M, tỉnh N; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Bán vé số; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguy n V n L, sinh n m 1952 và con bà: Nguy n Thị L, sinh n m 1958. Hiện cùng tr tại t 3, phư ng P, thị x K, tỉnh L, Bị cáo có chồng đ ly h n và 02 con, con lớn sinh n m 2004, con nhỏ sinh n m 2005. Tiền án, tiền sự: không; bị b t, tạm giữ từ ngày 22/8/2020 đ n ngày 31/8/2020. Được thay th bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư tr từ ngày 01/9/2020 cho đ n nay (có mặt).

- Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ng Nguy n Đ c Q; Địa chỉ: Th n T, x A, huyện M, tỉnh N (V ng mặt).

NHẬN THẤY:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau: Khoảng tháng 12/2019, Nguy n Thị Thuý N(sinh năm 1982, trú tại TDP 3, phường P, thị xã K, tỉnh L; tạm trú tại TDP8, thị trấn M, huyện M, tỉnh N) đ n cư tr tại huyện Đ k Mil và làm nghề bán vé x số ki n thi t tại khu vực vỉa hè đư ng Nguy n Tất Thành thuộc thôn P, xã L, huyện M, tỉnh N. Vì muốn có tiền tiêu xài, N nảy sinh ý định ngoài bán vé x số ki n thi t thì N còn ghi số l , số đề cho những ngư i có nhu cầu tham gia để thu tiền bằng cách sử dụng các t vé x số ki n thi t đ x , kh ng còn giá trị để làm t ghi số l , số đề (gọi là phơi đề), N ghi các con số mà khách yêu cầu lên mặt trên của t vé x số ki n thi t và giữ lại đồng th i dùng t giấy than để sao bản sao đưa cho ngư i ghi số l , số đề (con bạc) làm c n c đối chi u sau này.

Cách th c tính th ng thua như sau: con bạc chọn các con số sau đó so sánh với hai số cuối của mỗi giải tr ng thưởng của các đài x số ki n thi t miền Trung, miền B c trong ngày. Trong đó hình th c ghi số “Đề” được tính trực ti p bằng tiền mặt, ghi theo hình th c “đầu, cuối”. Để ghi số “Đề”, ngư i chơi chọn số có hai chữ số (gọi là 2 càng) và so sánh với giải tám (quy ước được gọi là cuối) và hai chữ số cuối cùng của giải đặc biệt (quy ước được gọi là đầu) hoặc số có ba chữ số (gọi là 3 càng) và so sánh với giải bảy (quy ước được gọi là cuối) và ba chữ số cuối cùng của giải đặc biệt để ghi đề (quy ước được gọi là đầu). N u các con số trùng nhau so với k t quả x số ki n thi t thì con bạc th ng tiền, n u các con số kh ng trùng nhau thì con bạc thua số tiền đ ghi. Tỉ lệ th ng thua như sau: với mỗi số tr ng là 1:70 (01 thắng 70) đối với ghi “2 càng” là 1:400 (01 thắng 400) đối với ghi “3 càng”. Hình th c ghi số “L ” được tính bằng điểm để quy đ i thành tiền, 01 điểm tương ng với số tiền 14.000 đồng. Con bạc chọn số có hai chữ số (từ 00 đến 99) để ghi, rồi so sánh với hai chữ số cuối cùng của tất cả các giải trong k t quả tr ng thưởng của đài x số ki n thi t mà ngư i ghi số l chọn. N u tr ng một giải thì gọi là một l , hai giải gọi là hai l ,... với tỉ lệ được thua của mỗi l là 1:70 (01 thắng 70). Hình th c ghi l “Xiên” được tính trực ti p bằng tiền mặt. Để ghi l “Xiên”, ngư i chơi chọn các cặp số mà mỗi số đều có hai chữ số rồi đối chi u với k t quả tr ng thưởng của đài x số miền B c. N u hai số (1 cặp) mà ngư i chơi đ chọn có trong bất kỳ hai chữ số cuối của bất kỳ giải tr ng thưởng thì sẽ th ng, với tỉ lệ th ng thua là 1:10 (01 thắng 10). Khi ghi số l , số đề, xiên các con bạc đưa tiền trước, n u các con bạc th ng cược sẽ được ngư i nhận ghi số l , số đề, xiên trực ti p trả tiền mặt theo tỉ lệ th ng trên, ngược lại thì ngư i nhận ghi số l , số đề, xiên th ng được số tiền con bạc đ ghi số l , số đề, xiên.

Với cách th c như trên, vào ngày 22/8/2020, Nguy n Thị Thuý Nđ ghi số l , số đề, xiên cho 04 con bạc, cụ thể như sau:

Khoảng 13h30p, khi N đang bán vé x số ki n thi t ở vỉa hè đư ng Nguy n Tất Thành thuộc địa phận th n P, xã L, huyện M thì có một ngư i nam giới khoảng 30 - 40 tu i (là người hay đến mua vé xổ số kiến thiết của N, không rõ nhân thân, lý lịch) đ n và nói N ghi số “đề” đài x số ki n thi t N ngày 22/8/2020, hai con số 01 và 10 với số tiền cá cược là 20.000 đồng/01 số đối với cả “đầu” (giải đặc biệt), “cuối” (giải tám) tương ng với số tiền ghi đề là 80.000 đồng và ghi số “l ” số 01 với số điểm là 80 điểm (01 điểm = 14.000 đồng), tương ướng số tiền 1.120.000 đồng; số 10 với số điểm là 20 điểm, tương ng với số tiền 280.000 đồng, N đồng ý rồi lấy t vé x số ki n thi t ngày 17/8/2020 của c ng ty x số ki n thi t Y ghi số l , số đề cho ngư i nam giới này với nội dung “ĐNẵng 22/8, 20Đ-01-20C, 20Đ-10-20C, 01x80, 10x20” rồi đưa bản sao cũng bằng t vé số ghi qua t giấy than cho ngư i nam giới ghi số l , số đề, còn N giữ lại bản gốc. T ng số tiền ngư i nam giới này ghi số l , số đề với N là 1.480.000 đồng nhưng ngư i nam giới này mới trả cho N số tiền 700.000 đồng và nợ N số tiền 780.000 đồng.

Khoảng 14h00p cùng ngày, một ngư i nam giới khoảng 20 tu i (cũng là người hay đến mua vé xổ số kiến thiết của N, không rõ nhân thân, lý lịch) đ n nói N ghi l “Xiên” đài Miền B c ngày 22/8/2020 với 06 cặp số là “69.96”; “75.96”; “75.69”; “75.45”; “45.69”; “45.96”, với số tiền cá cược mỗi cặp l xiên là 10.000 đồng, N đồng ý rồi lấy t vé x số ki n thi t ngày 17/8/2020 của c ng ty x số ki n thi t Ph Yên ghi l xiên cho ngư i nam giới này với nội dung “Mb 22/8; xiên 69.96.10n; 75.96.10n; 75.69.10n; 75.45.10n; 45.69.10n; 45.96.10n” rồi đưa bản sao cũng bằng t vé x số ki n thi t ghi qua t giấy than cho ngư i nam giới còn N giữ lại bản gốc. T ng số tiền ngư i nam giới này ghi l xiên với N là 60.000 đồng nhưng chưa trả cho N hẹn ngày h m sau sẽ trả.

Khoảng 14h30p cùng ngày, một đối tượng tên V (không rõ nhân thân, lý lịch) cùng Nguy n Đ c Q(sinh năm 1990, trú tại thôn Thuận Thành, xã Thuận An, huyện Đắk Mil) đi đ n địa điểm N bán vé x số ki n thi t thì V đi vào gặp N và nói N ghi cho số l đài Quảng Ng i số “78” và “87” mỗi số 100 điểm tương ng với số tiền ghi l là 2.800.000 đồng, N đồng ý rồi lấy t vé x số ki n thi t ngày 17/8/2020 của c ng ty x số ki n thi t Ph Yên ghi số l cho đối tượng V với nội dung “Q Ng i 22/8; 78x100; 87x100” rồi đưa bản sao cũng bằng t vé x số ki n thi t Đ k L k ngày 18/8/2020 ghi qua t giấy than cho đối tượng V còn N giữ lại bản gốc (khi V vào ghi số lô với N thì Quý không biết). Sau khi đưa tiền ghi số lô cho N thì V, Quý đi đ n khu vực Hồ Tây, thị trấn M uống nước sau đó V đón xe buýt để đi đ n huyện Cư J t, tỉnh Đ k N ng.

Đ n khoảng 16h00p cùng ngày, Nguy n Đ c Qmột mình đi đ n gặp N và nói N ghi cho số l đài Quảng Ng i số “28” với 100 điểm, tương ng với số tiền 1.400.000 đồng; số “72” với 50 điểm, tương ng với số tiền 700.000 đồng và ghi số “đề” con số “32” với số tiền 50.000 đồng đối với “đầu” (giải đặc biệt), 50.000 đồng đối với “cuối” (giải tám) tương ng với số tiền là 100.000 đồng. N đồng ý rồi lấy t vé x số ki n thi t ngày 16/8/2020 của c ng ty x số ki n thi t H và t vé x số ki n thi t ngày 17/8/2020 của c ng ty x số ki n thi t Phú Yên ghi số l , số đề cho Quý với nội dung “Q Ng i 22/8; 28x100; 72x50; 50Đ-32-50C”. Khi Quý đưa số tiền 2.200.000 đồng cho N thì bị lực lượng C ng an huyện M, tỉnh N phát hiện b t quả tang.

Tang vật vụ án thu giữ gồm: thu giữ của N số tiền 5.700.000 đồng; 01 t vé x số ki n thi t Khánh Hoà ngày 16/8/2020 có nội dung ghi số “QNg i 22/8; 28x100; 72x50; 50Đ-32-50C”; 01 t vé x số ki n thi t Ph Yên ngày 17/8/2020 có nội dung ghi số “QNg i 22/8; 28x100; 72x50; 50Đ-32-50C”; 01 t vé x số ki n thi t Đ k L k ngày 18/8/2020 có nội dung ghi số “QNg i 22/8; 78x100; 87x100”; 01 t vé x số ki n thi t Ph Yên ngày 17/8/2020 có nội dung ghi số “QNg i 22/8; 78x100; 87x100”; 01 t vé x số ki n thi t Ph Yên ngày 17/8/2020 có nội dung ghi số “Mb 22/8; xiên 69.96.10n; 75.96.10n; 75.69.10n; 75.45.10n; 45.69.10n; 45.96.10n”; 01 t vé x số ki n thi t Ph Yên ngày 17/8/2020 có nội dung ghi số “ĐNẵng 22/8; Đ-C 20-01-20; 20-10-20; 01x80; 10x20”; 01 cây b t bi màu xanh; 01 t giấy than.

Tại bản cáo trạng số: 66/CTr-VKS, ngày 30/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k N ng đ truy tố bị cáo Nguy n Thị Th y N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự n m 2015, sửa đ i b sung n m 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đ truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ k Mil giữ quyền c ng tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, ch ng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quy t định truy tố, c n c nhân thân và các tình ti t t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đ đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguy n Thị Th y N phạm tội “Đánh bạc”

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Diều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguy n Thị Th y N từ 20.000.000đồng đ n 25.000.000đồng

- Về xử lý vật ch ng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của BLHS; C n c Điều 106 của BLTTHS:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.700.000 (N m triệu bảy tr m nghìn đồng) do bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 cây b t bi màu xanh do kh ng còn giá trị sử dụng.

Bị cáo kh ng tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung vụ án, c n c vào các ch ng c và tài liệu đ được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra C ng an huyện Đ k Mil, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ k Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những ngư i tham gia tố tụng kh ng có ai có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, ngư i ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, ngư i ti n hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguy n Thị Th y N đ khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đ thực hiện đ ng như di n bi n sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ k Mil đ truy tố, l i khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với l i khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với l i khai của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngư i làm ch ng và các ch ng c , tài liệu thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra c ng khai.

Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khoảng 14h30p đ n 16h00p ngày 22/8/2020, tại th n P, x L, huyện M, tỉnh N Nguy n Thị Th y N với Nguy n Đ c Q và đối tượng tên V (chưa rõ nhân thân, lý lịch) có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình th c ghi số l , số đề dựa trên k t quả x số ki t thi t của tỉnh Quảng Ng i với t ng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 5.000.000 đồng.

Hành vi này của Nguy n Thị Th y N đ cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đ ng ngư i, đ ng tội, đ ng pháp luật.

Do đó, Hội đồng xét xử đủ c n c để k t luận hành vi của bị cáo Nguy n Thị Th y N đ phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS n m 2015 (đ được sửa đ i, b sung n m 2017).

Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho x hội, hành vi đó đ xâm hại đ n trật tự c ng cộng, gây ảnh hưởng xấu đ n tình hình trật tự tại địa phương. Bị cáo là c ng dân có đầy đủ n ng lực trách nhiệm hình sự, có nhận th c và điều khiển được hành vi của bản thân, bị cáo bi t rằng Nhà nước và pháp luật nghiêm cấm việc đánh bạc, gá bạc, cá độ trái phép dưới bất kỳ hình th c nào được thua bằng tiền hay hiện vật nhưng vào ngày 22/8/2020 bị cáo cùng với Nguy n Đ c Qvà đối tượng tên V (chưa rõ nhân thân, lý lịch) có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình th c ghi số l , số đề dựa trên k t quả x số ki t thi t của tỉnh Quảng Ng i với t ng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 5.000.000 đồng. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra.

Về các tình ti t t ng nặng trách nhiệm hình sự: kh ng

Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trư ng hợp ít nghiêm trọng, Sau khi phạm tội bị cáo đ thành khẩn khai báo, n n n hối cải về hành vi phạm tội của mình gây ra. Đây là những tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy kh ng cần cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống x hội mà áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành c ng dân có ích cho gia đình và x hội; có tác dụng r n đe phòng ngừa chung trong x hội.

5 Về xử lý vật ch ng: áp dụng Điều 47; Điều 48 của BLHS; C n c Điều 106 của BLTTHS:

- Đối với số tiền 5.700.000 bị cáo đ dùng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 cây b t bi màu xanh kh ng còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với Nguy n Đ c Q là ngư i tham gia đánh bạc (ghi số lô, số đề) với Nguy n Thị Th y N với số tiền 2.200.000 đồng, quá trình điều tra xác định Nguy n Đ c Q chưa có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc và tội T ch c đánh bạc hoặc gá bạc, hành vi của Nguy n Đ c Q chưa đ n m c phải truy c u trách nhiệm hình sự. Vì vậy ngày 16/10/2020 C ng an huyện Đ k Mil ra quy t định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với đối tượng tên V và hai đối tượng nam giới (không rõ nhân thân, lý lịch) là ngư i tham gia đánh bạc (ghi số lô, số đề) với Nguy n Thị Th y N vào ngày 22/8/2020. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lý lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra C ng an huyện Đ k Mil ti p tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có c n c sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi ghi số l , số đề đài x số ki n thi t Đà Nẵng vào ngày 22/8/2020 cho một đối tượng nam giới (không rõ nhân thân, lý lịch) với số tiền 1.480.000 đồng và ghi số l xiên đài x số ki n thi t Miền B c vào ngày 22/8/2020 cho một đối tượng nam giới (không rõ nhân thân, lý lịch) với số tiền 60.000 đồng của Nguy n Thị Th y N chưa đ n m c phải truy c u trách nhiệm hình sự. Vì vậy ngày 16/10/2020 C ng an huyện Đ k Mil ra quy t định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

6 Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguy n Thị Th y N phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật hình sự n m 2015 sửa đ i, b sung n m 2017, xử phạt: Bị cáo Nguy n Thị Th y N 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng)

2. Về xử lý vật ch ng: áp dụng Điều 47; Điều 48 của BLHS; C n c Điều 106 của BLTTHS:

- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.700.000 bị cáo đ dùng vào việc đánh bạc.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 cây b t bi màu xanh do kh ng còn giá trị sử dụng.

3. Về án phí: C n c Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguy n Thị Th y N phải nộp 200.000 đồng (Hai tr m nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v ng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”

Cỡ chữ