- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lỳ Gió chừ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU ——— Bản án số: 58/2019/HSST Ngày: 31/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Viết Ánh, Ông Pờ Pó Chừ
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thanh, kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2019/HSST, ngày 04 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2019/QĐXXST –HS, ngày 17 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Lỳ Gió C - Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1970; sinh tại: xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú: bản G, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: trồng trọt; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: không; Dân tộc: Hà Nhì; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lỳ Xá L – đã chết; Con bà: Lỳ Ứ D – đã chết; Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị : Lỳ Ứ P - sinh năm: 1976; bị cáo có 04 con, lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2010. Tiền án: không; tiền sự không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/06/2019 đến ngày 10/6/2019 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh Hùng – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai Châu – Có mặt.
* Người làm chứng: Anh Phùng Xừ X – Sinh năm: 1990; Địa chỉ: bản G, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01/6/2019, trên đường đi quăng chài về, Lỳ Gió C gặp một người dân tộc La Hủ ( C không biết tên), qua trò chyện trao đổi C đã mua của người này 01 gói thuốc phiện với số tiền là 1.000.000đồng ( một triệu đồng). Mua được thuốc phiện C đem về chia gói thuốc phiện ra làm các gói nhỏ, chia được 05 gói, C cho vào một hộp kim loại inox màu trắng để trên giường cạnh chỗ C ngồi, rồi tiếp tục gói số thuốc phiện còn lại vào một gói nhỏ, khi C đang gói thuốc phiện thì có Phùng Xừ X là người cùng bản đến chơi, đúng lúc này Tổ công tác Công an xã Thu Lũm phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên tay C 01 gói chất nhựa dẻo màu nâu đen, có mùi hắc và 05 gói chất nhựa dẻo màu nâu đen có mùi hắc được đựng trong một hộp kim loại inox, theo lời khai của C đây là thuốc phiện.
Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, đã xác định 06 chất nhựa dẻo, màu nâu đen, có mùi hắc thu giữ của Lỳ Gió C có tổng khối lượng là 10,63 gam. Tại bản kết luận giám định số: 251/GĐ–KTHS, ngày 07/6/2019 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận, 06 mẫu chất dẻo, màu nâu đen, có mùi hắc ( được ký hiệu từ Gói 1 đến Gói 6) thu giữ của Lỳ Gió C là ma túy, loại thuốc phiện.
Tại Cáo trạng số: 57/CT- VKS– MT, ngày 03 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố bị cáo Lỳ Gió C về tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm b khoản 1 Điều 249 BLHS.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lỳ Gió C phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Lỳ Gió C từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 08 tháng tù. Về hình phạt bổ sung đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn. Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy gồm: 6,16 gam thuốc phiện còn lại sau giám định; 01 chiếc hộp kim loại màu trắng, hình chữ nhật ( đã qua sử dụng).
Người bào chữa cho bị cáo Lỳ Ció C trình bày luận cứ bào chữa. Sau khi phân tích về nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo. Người bào chữa nhất trí với tội danh mà Kiểm sát viên đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo là người dân tộc, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, không có trình độ học vấn, do vậy nhận thức về pháp luật còn có những hạn chế nhất định, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt, đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Lỳ Gió C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, nhất trí với ý kiến bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung thêm; Bị cáo nhất trí với luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo có ý kiến xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng, do muốn có thuốc phiện để sử dụng ( hút), vào ngày 01/6/2019, trên đường đi quăng chài về Lỳ Gió C đã gặp và mua của một người đàn ông dân tộc La Hủ ( C không biết tên) 01 gói thuốc phiện với giá là 1.000.000đồng. Mua được thuốc phiện, để tiện cho việc sử dụng, khi về đến nhà C chia gói thuốc phiện ra làm các gói nhỏ, chia được 05 gói C cho vào 01 chiếc hộp kim loại i nox màu trắng để trên giường cạnh chỗ ngồi của C, rồi tiếp tục gói nốt số còn lại vào một gói nhỏ, trong khi đang gói thì bị Tổ công tác Công an xã Thu Lũm phát hiện và bắt qua tang thu giữ trên tay của chừ 01 gói thuốc phiện và 05 gói được đựng trong 01 chiếc hộp kim loại i nox có tổng khối lượng 10,63 gam.
Như vậy, khẳng định hành vi của Lỳ Gió C đã đủ yếu tố cấu thành tội" Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 249 BLHS có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Do vậy, Cáo trạng số: 57/CT - VKS - MT, ngày 03 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố đối với Lỳ Gió C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”' theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[ 3 ] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức rõ việc mua thuốc phiện về tàng trữ là vi phạm pháp luật, nhưng do nghiện thuốc phiện, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
[ 4 ] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân, bị cáo Lỳ Gió C có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo là người nghiện chất ma túy.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng, bị cáo Lỳ Gió C luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, không có trình độ học vấn, nhận thức pháp luật còn có những hạn chế nhất định, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.
[ 5 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, thấy rằng, bị cáo Lỳ Gió C làm nghề trồng trọt, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trong vụ án này còn có một người đàn ông dân tộc La Hủ đã bán thuốc phiện cho Lỳ Gió C, nhưng C lại không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này, nên không có cơ sở để điều tra, xử lý được đối với người này. Đối với Phùng Xừ X có mặt tại nhà C khi Tổ công tác công an xã bắt quả tang C, nhưng X chỉ đến chơi nhà Ch, do vậy không xử lý đối với X là đúng quy định pháp luật .
[ 6 ] Về vật chứng của vụ án: Đối với 6,16 gam thuốc phiện thu gữ còn lại sau giám định và 01 hộp kim loại màu trắng thu giữ, đây là chất cấm lưu hành và công cụ phạm tội cần phải tịch thu tiêu hủy.
[ 7 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy bị cáo thuộc hộ nghèo theo quy định Chính phủ, Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/6/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí. Miễn án phí hình sự sở thẩm 200.000đồng cho bị cáo Lỳ Gió C.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và một phần ý kiến đề nghị của người bào chữa là có căn cứ cần phải chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí.
1. Tuyên bố bị cáo Lỳ Gió C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lỳ Gió C 01 ( một) năm 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành hoặc bị bắt đi thi hành được khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày, kể từ 20 giờ 30 phút ngày 01/6/2019 đến 20 giờ 30 phút ngày 10/6/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm: 6,16 gam thuốc phiện còn lại sau giám định; 01 hộp kim loại màu trắng ( hộp đã qua sử dụng).
Toàn bộ những vật chứng trên hiện đang được thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng ( hai trăm nghìn đồng) cho bị cáo.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh; - VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Thi hành án hình sự; - VKSND huyện; - Thi hành án dân sự huyện; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Đỗ Mạnh Trang |