- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2019/HS-ST Ngày 24/7/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương
Các H i thẩm nh n d n: Ông Nguyễn Bá Đặng và ông Phan Văn Tiến.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy – Thư ký Tòa án
Đại di n Vi n ki m át nh n d n hu n Thái Th tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy,tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 54/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2019/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/4/1987 tại xã Th, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: thôn K, xã Th, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 09/12;
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1961.
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến lớp 9/12, sau đó ở nhà lao động tự do.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2019 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người chứng kiến:
- Ông Vũ Thành Đ, sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn Đ, xã M1 huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
- Ông Nguyễn Sỹ H, sinh năm 1955
Địa chỉ: Khu ..., thị trấn D, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
(Ông Đạt, ông Hùng đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 15/5/2019, Nguyễn Văn T bắt xe ôm đi từ nhà đến đường thôn H1, xã Th1, huyện Thái Thụy để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T mua được 1 gói ma túy, loại Heroine với giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) của một người đàn ông khoảng 60 tuổi không biết tên, địa chỉ. Mua xong, T cất ma túy vào túi bên phải, phía trước quần T đang mặc và bắt xe ôm về khu vực cổng Bệnh viện đa khoa huyện Thái Thụy, T xuống xe tìm nơi để sử dụng ma túy. Khi T đi bộ được một đoạn thì bị tổ công tác công an huyện Thái Thụy yêu cầu kiểm tra hành chính. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Vũ Thành Đ, sinh năm 1964; địa chỉ tại thôn Đ, xã M và ông Nguyễn Sỹ H, sinh năm 1955, địa chỉ tại khu ..., thị trấn D đều thuộc huyện Thái Thụy, tổ công tác đã thu giữ trong túi quần bên phải, phía trước T đang mặc có 1 gói được gói bằng giấy màu trắng, có dòng kẻ, mở ra bên trong có chất bột, dạnh cục, màu trắng. T khai nhận đó là ma túy T vừa mua về với giá 100.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. (Niêm phong mẫu số A1). Sau đó, Công an đưa T và mời người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn Diêm Điền tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T nhưng không thu giữ gì liên quan đến ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 160/KLGĐ-PC09 ngày 16/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận “Chất b t màu trắng dạng c c trong Mẫu số A1 là ma tú , loại Heroin (Hêrôin), có khối lượng 0,3330 gam” . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định trên.
Bản cáo trạng số 58/ CT-VKSTT ngày 26/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và không tranh luận.
Nói lời sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền,trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị, khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ 0,333 gam heroine để sử dụng và bị bắt quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến là ông Vũ Thành Đ, ông Nguyễn Sỹ H. Ngoài ra, còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy lập cùng ngày 15/5/2019; Kết luận giám định số 160/KLGĐ – PC09 ngày 16/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo đã xâm hại quyền quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện. Bị cáo đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự;
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tú mà không nhằm m c đích mua bán, vận chu n, ản xuất trái phép chất ma tú thu c m t trong các trường hợp au đ , thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
……
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
……
5. Người phạm t i còn có th bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhi m chức v , cấm hành nghề hoặc làm công vi c nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu m t phần hoặc toàn b tài ản”.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Ma túy là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đại dịch HIV/AIDS đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình và cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân và không có thu nhập ổn định, do đó không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc số ma tuý: T khai nhận mua của người người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, tuổi địa chỉ tại khu vực đường thôn Hạ Lập, xã Th1 nên cơ quan điều tra không căn cứ điều tra, xử lý.
Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
quyÕt ®Þnh:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 1(một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy sau giám định còn lại 0,2986 gam mẫu A1. (Có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy ngày 26/6/2019).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/7/2019. N¬i nhËn :
| - Tßa ¸n nh©n d©n tØnh Th¸i B×nh; - C«ng an huyÖn Th¸i Thôy; - VKSND huyÖn Th¸ Thôy; - Chi côc THA DS h. Th¸i Thôy; - VKSND tØnh Th¸i B×nh; - Bị cáo; - L u văn phòng. | T/M HéI §åNG xÐt xö s¬ thÈm THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Nguyễn Văn Vương |