- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Ngô Văn C và chị Lương Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: /2019/HNGĐ-ST Ngày 25-9-2019 “V/v Ly hôn giữa anh C với chị H” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Văn Trung 2. Bà Trần Thị Nơi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường là thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lân – Kiểm sát viên.
Ngày 25-9-2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2019/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2019/QĐXXST – HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Ngô Văn C, sinh năm 1980, (có mặt) Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Bị đơn: Chị Lương Thị H, sinh năm 1980, (có mặt) Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, anh Ngô Văn C trình bày: Anh và chị Lương Thị H kết hôn với nhau do đôi bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 18-11-2001. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày nên hay xảy ra cãi vã nhau, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 1-2019 đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh với chị H không còn, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H. Anh và chị H có 02 con chung là Ngô Thị Kim C, sinh ngày 24-4-2003 và Ngô Văn M, sinh ngày 13-10-2008. Nếu vợ chồng ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngô Văn M, nhường chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngô Thị Kim C. Anh làm nghề xây dựng ở tỉnh ngoài, hiện tại anh đang làm ở tỉnh Bắc Giang và tỉnh Hưng Yên, thu nhập khoảng 9.000.000 đồng/tháng, anh cũng thừa nhận từ đầu năm 2019 đến nay vợ chồng mâu thuẫn nên anh không đưa cho chị H đồng nào để nuôi con. Về tài sản, anh và chị H tự phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Lương Thị H trình bày: Chị và anh Ngô Văn C kết hôn với nhau do đôi bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 18-11-2001. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C có quan hệ nam nữ bất chính với nhiều người phụ nữ khác, chị có khuyên bảo nhiều lần nhưng anh C không nghe còn đánh đập chi, đập phá tài sản, không quan tâm đến vợ con. Do không khắc phục được mâu thuẫn nên vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 01-2019 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị với anh C không còn, chị nhất trí ly hôn theo yêu cầu của anh C. Vợ chồng chị có 02 con chung như anh C trình bày là đúng. Nếu vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con vì anh C thường xuyên vắng nhà, và có quan hệ nam nữ bất chính với nhiều người phụ nữ khác nên không quan tâm gì đến con, không chu cấp tiền cho chị nuôi con ăn học, chị yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi mỗi con cùng chị là 800.000 đồng/tháng (hai con là 1.600.000 đồng/tháng) đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị làm ruộng, ngoài ra có buôn bán thêm ở nhà nên có đủ điều kiện nuôi con. Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị có một số tài sản chung, nhưng vợ chồng tự phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho anh C được ly hôn chị H; giao cả hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H; về chia tài sản, các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà nhận định:
Anh Ngô Văn C khởi kiện yêu cầu được ly hôn chị Lương Thị H, chị H cư trú tại: Thôn An Nhân, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Về hôn nhân: Chị Lương Thị H và anh Ngô Văn C kết hôn với nhau do đôi bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 18-11-2001, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không tin tưởng nhau, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng, nay cả anh C và chị H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và nhất trí ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh C và chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần xử cho ly hôn giữa anh C và chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Anh C và chị H có 02 con chung là Ngô Thị Kim C, sinh ngày 24-4-2003 và Ngô Văn M, sinh ngày 13-10-2008. Từ khi anh C và chị H sống ly thân nhau, cả 2 con đều do chị H trực tiếp nuôi dưỡng tốt, cả hai cháu đều đang đi học. Xét thấy anh C thường xuyên đi làm ăn xa không có mặt tại địa phương nên anh không có điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con; cả hai con chung đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy cần giao cả hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh C phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng chị H theo yêu cầu của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình
Về chia tài sản: Anh C và chị H đều trình bày tự phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh C phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Ngô Văn C và chị Lương Thị H.
2. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung là cháu Ngô Thị Kim C, sinh ngày 24-4-2003 và Ngô Văn M, sinh ngày 13-10-2008 cho chị Lương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi cháu mỗi tháng là 800.000 đồng, hai cháu là 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng)/tháng, kể từ tháng 10-2019 đến khi cháu Ngô Thị Kim C và cháu Ngô Văn M đủ 18 tuổi. Anh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về chia tài sản: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Anh C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005596 ngày 28-5-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà. Anh C còn phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
5. Chị Lương Thị H và anh Ngô Văn C có quyên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận: - Đương sự - VKSND huyện Hưng Hà; - Chi cục THA huyện Hưng Hà; - UBND xã T; - Lưu hồ sơ. | Nguyễn Mạnh Hà |