vanban.org

Bản án 58/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 17/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Lý Chí D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

[2] Xử phạt bị cáo Lý Chí D 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 10/5/2018. [3] Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Chí D thụ lý số 62/2018/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2018 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Lý Chí D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…
TAND THÀNH PHỐ LAI CHÂU
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2018/HSST
Ngày 17 - 10 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đức Long Các hội thẩm nhân dân: Ông:

Lê Liêm Ông:

Chúng Văn Him

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Khuất Thị Lan Thư ký TAND thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông: Nguyễn Bá Đoàn

Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2018 mở phiên tòa công khai sơ thẩm tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu để xét xử vụ án hình sự thụ lý số 62/2018/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2018/QĐXXST-HS ngày 04/10/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Chí D; Sinh năm: 1971 tại tỉnh Lai Châu; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: khu 2, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lái xe; Học vấn: 11/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Trung T (sinh năm 1919, đã chết) và bà Lưu Thị N (sinh năm 1927, đã chết); Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ 8; Có vợ là Phú Thị H sinh năm 1975 (đã ly hôn năm 2012), có 02 con (lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 1999); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: tốt; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2018 cho đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ban quản lý dự án giảm nghèo huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Địa chỉ: Thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy H1

- sinh năm 1986

Chức vụ: Phó Giám đốc phụ trách.

(Vắng mặt có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 10/5/2018 Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma tuý, Đội cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố Lai Châu, phối hợp với Đội 3 Phòng PC47 Công an tỉnh Lai Châu làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 13, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Phát hiện tại đoạn ngõ 67, đường Trần Phú có một xe ô tô, nhãn hiệu MITSUBISHI – TRITON BKS 25A-00140 đang đỗ ở đường, trong xe có một người đàn ông ngồi ở ghế lái có nhiều biểu hiện nghi vấn tội phạm về ma tuý. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, qua kiểm tra đối tượng khai nhận tên là Lý Chí D (sinh năm 1971; Trú tại khu 2, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu) và tự giác lấy từ túi quần phía trước bên trái đang mặc một chiếc khăn màu xám, bên trong có 01 gói nilon màu đen, bên trong gói nilon có 02 gói nhỏ: 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng bên trong là 04 viên nén màu đỏ; 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng, bên trong là 02 viên nén màu đỏ và chất bột khô vón cục màu trắng. D khai đó là heroine và hồng phiến của D tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác lập biên bản đưa D cùng tang vật về trụ sở làm rõ. Khi về đến trụ sở cơ quan điều tra D khai nhận trên xe còn heroine, cơ quan điều tra cho D tự giác ra lấy giao nộp có người làm chứng đi cùng. D đã tự giác lấy trong hốc nhựa, dưới vô lăng, cạnh bàn đạp ga 01 gói được gói ngoài bằng nilon màu đen, bên trong có 02 gói gồm: 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng bên trong là chất bột màu trắng; 01 gói được gói ngoài bằng hai lớp nilon màu trắng và nilon màu hồng, bên trong là chất bột màu trắng. D khai đó là heroine, cơ quan điều tra niêm phong số ma tuý này và kiểm tra toàn bộ xe cùng hành lý nhưng không thu giữ gì thêm.

Tại cơ quan điều tra D khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 10/5/2018 D đang ở phòng tập thể (Ban quản lý dự án giảm nghèo, thuộc khu 2, thị trấn Sìn Hồ) nơi dũng làm việc thì bị mất điện, D không sạc được điện thoại nên đi ra đường tìm nơi sạc nhờ điện thoại, ra đến cổng D gặp anh T (hay T1, D không nhớ rõ vì đã lâu không gặp) đang sửa xe ô tô. D mượn điện thoại của người này gọi điện cho P (nhà ở khu vực bản Dao, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ) theo số điện thoại D ghi ở mảnh giấy, để trao đổi mua heroine và hồng phiến sử dụng cho bản thân. Qua trao đổi D và P thống nhất 1 cây heroine giá 22.000.000VNĐ, 03 phân heroine giá 600.000VNĐ, 06 viên hồng phiến giá 400.000VNĐ và P giao hàng tại khu vực đường nhựa gần cơ quan D. D đi ra khu vực đã hẹn, một lúc sau P đi xe máy đến vứt xuống đường chỗ D đứng một gói nilon màu đen rồi đi đâu không rõ. D nhặt gói nilon mang vào phòng mở ra kiểm tra, bên trong có 02 gói đều gói bằng nilon màu đen: gói màu đen thứ nhất bên trong có 02 gói nhỏ một gói là nilon màu trắng bên trong là 04 viên nén hồng phiến; gói tiếp theo là nilon màu hồng bên trong là 02 viên nén hồng phiến và một cục heroine. Gói nilon màu đen thứ hai bên trong có 02 gói heroine: 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng; 01 gói được gói ngoài bằng hai lớp nilon màu trắng và nilon màu hồng. D lấy một ít heroine (trong gói nilon màu hồng có 02 viên hồng phiến và một cục heroine) ra sử dụng bằng hình thức hít rồi gói tất cả lại như cũ, cất vào túi quần bên phải đang mặc ra cổng cơ quan xem bạn D sửa ô tô. Được khoảng 30 phút P gọi lại cho D (qua số của bạn D) bảo D mang tiền trả, D bảo P đến khu vực cổng cơ quan của D. D mang 17.000.000VNĐ đã chuẩn bị từ trước đưa cho P và nợ lại 6.000.000VNĐ, P nhất trí cầm tiền và đi đâu không rõ, D xé tờ giấy ghi số điện thoại của P vứt đi rồi về phòng tập thể ngủ. Khoảng 13 giờ 10 phút D được lệnh đưa anh Nguyễn Duy H1 (sinh năm 1986, Phó Giám đốc Ban quản lý dự án giảm nghèo huyện Sìn Hồ) đi công tác tại thành phố Lai Châu. D lấy gói ma tuý mua được lúc sáng, lấy gói ma tuý có chứa 02 gói (01 gói chứa 04 viên hồng phiến và 01 gói chứa 02 viên hồng phiến và heroine) gói vào khăn mùi xoa có màu trắng – xám cất vào túi quần bên phải đang mặc. Còn gói nilon còn lại (bên trong chứa 02 gói heroine) D cất vào hốc nhựa cạnh bàn đạp ga xe ô tô BKS 25A-00140 do D quản lý và đi công tác. Khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày đến thành phố Lai Châu, D đưa anh H1 vào họp tại trụ sở Ban quản lý dự án giảm nghèo tỉnh Lai Châu (thuộc phường Đông Phong, thành phố Lai Châu) rồi đi ra khu vực ngõ 067 đường Trần Phú (tổ 13, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu) để tìm nhà người quen thì bị cơ quan điều tra yêu cầu kiểm tra, D đã tự giác giao nộp số ma tuý trên người, khi được đưa về trụ sở cơ quan điều tra D giao nộp tiếp số ma tuý tàng trữ trên xe ô tô.

Căn cứ lời khai của D, cơ quan điều tra triệu tập anh Nguyễn Duy H1 phó Giám đốc Ban quản lý dự án giảm nghèo huyện Sìn Hồ, tại cơ quan điều tra anh H1 khai nhận: Khoảng 13 giờ 10 phút do yêu cầu công tác, D (là lái xe Ban quản lý dự án giảm nghèo huyện Sìn Hồ) đến đón anh bằng ô tô BKS 25A-00140 của cơ quan tại nhà để đi họp tại Ban quản lý dự án giảm nghèo tỉnh Lai Châu, đến nơi khoảng 14 giờ 50 phút anh vào họp và có bảo D đón lúc 17 giờ, sau đó D đi chuyển công văn, đến khi họp xong không thấy D, anh đã gọi điện không thấy trả lời, anh đã tự về và sau đo được biết D bị cơ quan điều tra bắt. Trong quá trình đi từ huyện Sìn Hồ về Thành phố Lai Châu anh không biết việc D tàng trữ trái phép chất ma tuý trên xe.

Cơ quan điều tra tiến hành xác minh đối tượng tên là P: qua xác minh Công an thị trấn Sìn Hồ xác định có đối tượng tên Tẩn A P (sinh năm 1981, hộ khẩu thường trú tại bản Dao, thị trấn Sìn Hồ) có vợ là Tẩn Mý C (sinh năm 1981). Tuy nhiên đối tượng P đi đâu không rõ và hiện không có mặt tại địa phương.

Ngày 10/5/2018 Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong, cân tịnh trọng lượng (BL93-95); Tang vật thu giữ của D gồm:

- 02 gói D tàng trữ trong túi quần đang mặc: 01 gói gồm 04 viên nén, viên 1 có khối lượng 0,11gam; viên 2 có khối lượng 0,11gam; viên 3 có khối lượng 0,10gam; viên 4 có khối lượng 0,11gam. Gói 2 gồm 02 viên nén, viên 5 có khối lượng 0,11gam; viên 6 có khối lượng 0,11gam và chất bột trắng có khối lượng 1,21gam. Hội đồng nhất trí lấy toàn bộ khối lượng 06 viên nén (viên 1 ký hiệu M1; viên 2 ký hiệu M2; viên 3 ký hiệu M3; viên 4 ký hiệu M4; viên 5 ký hiệu M6; viên 6 ký hiệu M7) và khối lượng 1,21gam chất bột màu trắng (ký hiệu M5) gửi đi giám định không hoàn lại.

- 02 gói D tàng trữ trong xe ô tô: Gói thứ nhất có khối lượng 5,87gam trích 1,75gam (ký hiệu M8). Gói thứ hai có khối lượng 38,56gam, trích 3,81gam (ký hiệu M9) gửi giám định không hoàn lại. Số còn lại 4,12gam và 34,75gam được niêm phong trong phong bì công văn của Công an thành phố Lai Châu phát hành.

Còn lại 01 chiếc khăn màu trắng xám; 02 mảnh nilon màu đen; 03 mảnh nilon màu trắng và 02 mảnh nilon màu hồng được niêm phong trong phong bì công văn của Công an thành phố Lai Châu.

Kết luận giám định số 212/GĐ-KTHS ngày 16/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu (BL98) đã kết luận: 06 (sáu) mẫu viên nén màu đỏ (ký hiệu M1, M2, M3, M4, M6, M7) gửi giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine; 03 (ba) mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M5, M8, M9) gửi giám định là ma tuý, loại: Heroine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số 41/CT-VKSTP ngày 14/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu (BL119-122) đã truy tố Lý Chí D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo nghiện ma tuý nên vẫn cố tình thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lý Chí D đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS; Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 09 năm tù; Miễn hình phạt bổ sung; Xử lý vật chứng; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng khác của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: 15 giờ 30 phút ngày 10/5/2018 tại khu vực tổ 13, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Lý Chí D đã có hành vi tàng trữ 45,64gam heroine và 0,65gam methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng cho nhu cầu của bản thân, thì bị kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Căn cứ Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ Luật hình sự năm 2015, thì tổng khối lượng của Heroin và methamphethamine mà Lý Chí D tàng trữ để sử dụng cho bản thân là 45,64gam + 0,65gam = 46,29gam thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249/BLHS quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine ... có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam.

…

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

…

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine ... có khối lượng từ 30gam đến dưới 100gam.

…

h) Có hai chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hhoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

…

Bị cáo ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên để sử dụng cho nhu cầu của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm sự độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là mầm mống làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự an ninh trong quần chúng nhân dân.

Nhân thân bị cáo: Được đi học hết lớp 11/12, năm 1990 học lái xe tại thị xã Lai Châu, năm 1991 lái xe cho UBND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, tháng 9/2014 lái xe cho Ban quản lý dự án giảm nghèo huyện Sìn Hồ cho đến khi bị bắt. Bị cáo có nhân thân tốt; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu của bản thân, gia đình bị cáo có bố là ông Lý Trung T là người được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất vì đã có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; anh trai Lý Duy T1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và là liệt sỹ hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước; Khi bị cơ quan điều tra yêu cầu kiểm tra bị cáo đã tự giác giao nộp ma tuý để trong túi và cất giấu trong xe, được coi là đầu thú hành vi phạm tội của mình; Ngoài ra trong quá trình điều tra bị cáo tích cực hợp tác và cung cấp thông tin để cơ quan điều tra bắt khởi tố một đối tượng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, Cơ quan điều tra có văn bản số 225 ngày 04/9/2018 đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với D. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Cần áp dụng khoản 1 Điều 54/BLHS cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào;

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và cho gia đình.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 249/BLHS quy định: Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, tuy nhiên bị cáo nghiện, không có tài sản riêng mặt khác còn phải chấp hành hình phạt tù nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Tẩn A P (theo bị cáo khai) là người đã bán ma tuý cho bị cáo, Cơ quan điều tra triệu tập tuy nhiên Páo không có mặt tại địa phương, gia đình và chính quyền địa phương không biết P ở đâu nên khoanh cắt để xử lý sau là phù hợp, nên không xem xét trong vụ án.

Vật chứng của vụ án là: 45,64gam heroine và 0,65gam methamphetamine, đã gửi giám định không hoàn lại 6,77gam heroine và 0,65gam methamphetamine, còn lại 38,87gam heroine đã được niêm phong; 01 chiếc khăn màu trắng xám; 02 mảnh nilon màu đen; 03 mảnh nilon màu trắng và 02 mảnh nilon màu hồng được niêm phong, cần tịch thu tiêu huỷ.

01 xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI – TRITON BKS 25A-00140 màu trắng là tài sản của Nhà nước, được giao cho Ban quản lý dự án giảm nghèo huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu sử dung, sau đó được giao cho bị cáo D quản lý. Đã được trả lại cho Ban quản lý dự án giảm nghèo huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu là phù hợp nên không xem xét.

Đối với đề nghị của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ cần được chấp nhận.

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm h khoản 3 Điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 54/BLHS; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

[1] Tuyên bố bị cáo Lý Chí D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

[2] Xử phạt bị cáo Lý Chí D 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 10/5/2018.

[3] Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

[4] Tịch thu: 45,64gam heroine và 0,65gam methamphetamine đã gửi giám định không hoàn lại 6,77gam heroine và 0,65gam methamphetamine, còn lại 38,87gam heroine đã được niêm phong; 01 chiếc khăn màu trắng xám; 02 mảnh nilon màu đen; 03 mảnh nilon màu trắng và 02 mảnh nilon màu hồng được niêm phong, để tiêu huỷ.

Vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lai Châu. Tình trạng vật chứng như biên bản giao giữa Công an và Chi cục THA dân sự thành phố Lai Châu hồi 14 giờ 25 phút ngày 14/9/2018.

[5] Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ