vanban.org

Bản án 58/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 11/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Đỗ Văn T 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

04-5-2018. , Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Đỗ Văn T 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2018/HSST
Ngày 11-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Thu Hiền;

Ông Nguyễn Minh Toàn.

- Thư ký phiên tòa:

- T

.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dâ

: Ông Phạm Duy Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 10

,

ét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2018/TLST-HS

8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2018/TLST-HS

8 năm 2018, đối với bị cáo:

Đỗ Văn T, sinh năm 1973, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Phường SD, quận HB, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam

; con ông Đỗ Văn Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; bị cáo có vợ là chị Trần Thị H, có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Có 01 tiền án đã được xóa án tích tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2012/HSST ngày 12-7-2012 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị tạm giữ từ ngày 04 tháng 5 năm 2018, bị tạm giam từ ngày 10 tháng 5 năm 2018; có mặt.

- Người làm chứng:

Bà Phạm Thị Thanh H, vắng mặt;

Bà Trần Thị Ngọc A, vắng mặt.

- Người chứng kiến: Bà Lương Thị M, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 ngày 04-5-2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Thị Ngọc A (trong một vụ án khác), sinh năm 1991 là con gái của chị Phạm Thị Thanh H, sinh năm 1970, trú tại: Số 7C/110 Trại Chuối, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Thu giữ 01 túi nilon kích thước 1,5x2cm chứa tinh thể màu trắng hồng dưới bàn uống nước trong phòng khách; 01 túi nilon kích thước 1,5x2cm chứa tinh thể màu trắng tại kệ gỗ lối lên cầu thang tầng 2; thu giữ trong phòng ngủ của chị H 01 bình nhựa không màu hình trụ tròn đường kính 6cm, cao khoảng 15cm có ống dẫn thủy tinh ở đầu nối với ống hút nhựa và 01 bình thủy tinh không màu có đế hình đa giác, cao khoảng 20cm có ống dẫn thủy tinh ở đầu; 01 túi nilon kích thước 2x4cm bên trong chứa chất màu xanh lá mềm nhũn; 01 túi nilon kích thước 3x6cm bên trong chứa 02 túi nilon nhỏ chứa chất màu trắng ướt; thu giữ tại sân phơi tầng ba 01 gói giầy bạc bên trong chứa 01 túi nilon kích thước 8x10 cm có chứa tinh thể màu trắng.

Tại thời điểm khám xét, Đỗ Văn T có mặt tại nhà chị Trần Thị Thanh H và khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 03-5-2018, Đỗ Văn T đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 túi nilon ma túy "đá" với giá 300.000 đồng. Sau đó, Thái cầm gói ma túy đến nhà bạn gái là Phạm Thị Thanh H. Đến tối cùng ngày, T lấy một số ma túy ra sử dụng, số còn lại cất dưới gầm bàn uống nước trong phòng khách. Thái ngủ tại nhà H đến 11 giờ 30 ngày 04-5-2018 thì Cơ quan Công an khám xét nhà H thu giữ số vật chứng như trên, sau đó ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Đỗ Văn T.

Tại Kết luận giám định số: 224/KLGĐ(Đ6) ngày 07-5-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:

- Mẫu số 1: Tinh thể màu hồng chứa trong 01 túi nilon đựng trong một hộp giấy còn nguyên niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,29 gam, là loại Methamphetamine;

- Mẫu số 2: Tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon đựng trong một hộp giấy còn nguyên niêm phong gửi giám định có khối lượng: 0,39 gam là Benzylisopropylamine, không phải là chất ma túy.

- Mẫu số 3: Hai bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy đựng trong 02 hộp giấy, tất cả để trong một hộp giấy còn nguyên niêm phong gửi giám định tìm thấy dấu vết chất ma túy: Methamphetamine.

- Mẫu số 4: Chất dẻo màu xanh chứa trong 01 túi nilon đựng trong một hộp giấy còn nguyên niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,97 gam, là loại Methamphetamine và BZP.

- Mẫu số 5: Tinh thể màu trắng có lẫn nước chứa trong 02 túi nilon, bên ngoài bọc bằng 01 túi nilon đựng trong một hộp giấy còn nguyên niêm phong gửi giám định có khối lượng: 0,89 gam, có thành phần chính là loại Dimethyl sufone và Urea, không tìm thấy chất ma túy.

- Mẫu số 6: Một túi nilon chứa tinh thể màu trắng, bên ngoài bọc bằng lớp giấy bạc đựng trong một hộp giấy còn nguyên niêm phong gửi giám định có khối lượng: 97,71 gam là Urea, không phải là chất ma túy.

Về vật chứng:

Qua điều tra làm rõ, T thừa nhận 01 túi nilon kích thước 1,5x2cm dưới bàn uống nước trong phòng khách (mẫu số 1) và 01 bình nhựa không màu hình trụ tròn đường kính 6cm, cao khoảng 15cm có ống dẫn thủy tinh ở đầu nối với ống hút nhựa là của T.

Đối với 01 túi nilon kích thước 1,5x2cm thu tại kệ gỗ là Benzylisopropylamine; 01 bình thủy tinh không màu có đế hình đa giác, cao khoảng 20cm có ống dẫn thủy tinh ở đầu; 01 túi nilon kích thước 2x4cm chứa chất màu xanh lá loại Methamphetamine và BZP; 02 túi nilon nhỏ bên trong 01 túi nilon kích thước 3x6cm là Dimethyl sufone và Urea, 01 túi nilon kích thước 8x10 cm bọc ngoài giấy bạc bên trong là Urea, tài liệu điều tra chưa xác định được là của ai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 45/CT-VKS-HB ngày 09-8-2018 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

, bị cáo Đỗ Văn T

, khoảng 13 giờ ngày 03-5-2018, Đỗ Văn T đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 túi nilon ma túy "đá" với giá 300.000 đồng. Sau đó, T cầm gói ma túy đến nhà bạn gái là Phạm Thị Thanh H. Đến tối cùng ngày, T lấy một số ma túy ra sử dụng, số còn lại cất dưới gầm bàn uống nước trong phòng khách. T ngủ tại nhà H đến 11 giờ 30 ngày 04-5-2018 thì Cơ quan Công an khám xét nhà H thu giữ số vật chứng như trên.

truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự

bị cáo Đỗ Văn T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù

, ngày 04-5-2018

đối với Đỗ Văn T.

, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử t

tinh thể màu hồng có chứa thành phần Methamphetamine (mẫu số 1) (còn lại sau giám định),

: 224/2018/PC54

. Tịch thu tiêu hủy 01 bình nhựa không màu hình trụ tròn đường kính 6cm, cao khoảng 15cm có ống dẫn thủy tinh ở đầu nối với ống hút nhựa,

niêm phong số: 224/2018/PC54

.

Đối với bà Phạm Thị Thanh H không biết việc bị cáo tàng trữ ma túy tại nhà của mình nên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng không có căn cứ để xử lý.

2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn T nhận tội theo tội danh đã bị truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, chứng đã thu giữ. Theo đó, khoảng 13 giờ ngày 03-5-2018, Đỗ Văn T đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn mua 01 túi nilon ma túy với giá 300.000 đồng. Sau đó, T cầm gói ma túy đến nhà bà Phạm Thị Thanh H. Đến tối cùng ngày, T lấy một số ma túy ra sử dụng, số còn lại cất dưới gầm bàn uống nước trong phòng khách nhà bà H. Như vậy

nh vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng truy tố đã

Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo, gây nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.

[4

:

.

[5

: Bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đã được xóa án tích như đã nêu trên, nên thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo Đỗ Văn T không có tài sản riêng, không có việc làm, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không phạt tiền đối với bị cáo.

[7

: T phần Methamphetamine (mẫu số 1)

. Tịch thu tiêu hủy 01 bình nhựa không màu hình trụ tròn đường kính 6cm, cao khoảng 15cm có ống dẫn thủy tinh ở đầu nối với ống hút nhựa,

.

Đối với bà Phạm Thị Thanh H không biết việc bị cáo tàng trữ ma túy tại nhà của mình nên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng không có căn cứ để xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Đỗ Văn T 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

04-5-2018.

47

, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

tinh thể màu hồng có chứa thành phần Methamphetamine (mẫu số 1) (còn lại sau giám định),

ong số: 224/2018/PC54

. Tịch thu tiêu hủy 01 bình nhựa không màu hình trụ tròn đường kính 6cm, cao khoảng 15cm có ống dẫn thủy tinh ở đầu nối với ống hút nhựa,

: 224/2018/PC54

.

Căn

2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ