- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Ph phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ph phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:58 /2018/HSST Ngày: 27/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH - THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Dương.
Bà Lương Thị Thêm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện TH, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TH, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TH, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:56/2018/TLST- HS ngày 29 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn Ph, sinh ngày 05/5/1967 tại xã NC, huyện TH, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Thôn HV, xã NC, huyện TH, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn X (đã chết) và bà Bùi Thị M; có vợ là Nguyễn Thị H và có 03 con; tiền sự: không; tiền án: Có 01 tiền án, ngày 25/11/1998, bị Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, bản án này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nH chưa thi hành xong khoản tiền phạt bổ sung 20.000.000đồng nên chưa được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/6/2018 đến ngày 09/6/2018 chuyển tạm giam. Bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện TH, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- Anh Phạm Văn L, sinh năm 1978 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1956 (vắng mặt)
Đều cư trú: Thôn HV, xã NC, huyện TH, Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bị nghiện ma túy, nên khoảng 12giờ ngày 06/6/2018 Phạm Văn Ph đi bộ từ nhà đến khu vực chợ Nam H thuộc địa phận thôn LT, xã Nam H, huyện TH tìm mua ma túy để sử dụng, khi đến chợ Ph gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ. Ph đi đến gần và hỏi người đàn ông “Anh có ma túy không bán cho em 100.000đồng”, người đàn ông trả lời “có”, Ph đưa 100.000 đồng cho người đàn ông, người đàn ông này nhận tiền và đưa lại cho Ph 01 gói nhỏ ma túy được gói bằng giấy bạc tráng kim màu trắng bên trong có chất bột dạng cục màu trắng. Ph cầm gói ma túy cất vào túi áo ngực phía trước bên trái đang mặc rồi đi bộ về nghĩa trang xã NC với mục đích để sử dụng. Khi Ph về đến nghĩa trang thôn Năng Tĩnh, xã NC thì bị Công an huyện TH phát hiện yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Sau khi được giải thích, Ph khai nhận đang tàng trữ trái phép chất ma túy, Công an huyện TH dẫn giải Ph và mời những người làm chứng về trụ sở Ủy ban nhân dân xã NC để làm việc. Tại đây Ph đã tự giác lấy từ trong túi áo phía trước bên trái đang mặc một gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng giao nộp cho Công an huyện TH. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn Ph tại thôn HV, xã NC nH không phát hiện thu giữ gì thêm.
Tại bản kết luận giám định số 220/KLGĐ-PC54 ngày 06/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu M gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin) có khối lượng 0,1230 gam
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do bị nghiện ma túy nên khoảng12giờ ngày 06/6/2018 bị cáo đi bộ từ nhà đến khu vực chợ Nam H thuộc địa phận thôn LT, xã Nam Trung, huyện TH tìm mua ma túy để sử dụng, khi đến chợ bị cáo gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ, bị cáo hỏi người đàn ông “Anh có ma túy không bán cho em 100.000đồng”, người đàn ông trả lời “có”, bị cáo đưa 100.000 đồng cho người đàn ông, người đàn ông này nhận tiền và đưa lại cho bị cáo 01 gói nhỏ ma túy được gói bằng giấy bạc tráng kim màu trắng bên trong có chất bột dạng cục màu trắng. Bị cáo cất gói ma túy vào túi áo ngực phía trước bên trái đang mặc rồi đi bộ về nghĩa trang xã NC để sử dụng thì bị Công an huyện TH phát hiện bắt quả tang.
Tại bản cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 28/8/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện TH, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Văn Ph về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TH, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 38, điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ph từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo sau khi hoàn giám định còn lại là 0,0904 gam.
- Về án phí: Áp dụng điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23,Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Kiểm sát viên về bản luận tội.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo và những người làm chứng không khiếu nại hay có ý kiến gì. Nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện TH lập ngày 06/6/2018.
- Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể do Công an huyện TH lập ngày 06/6/2018.
- Biên bản khám xét nhà ở, đồ vật của Phạm Văn Ph do Công an huyện TH lập ngày 06/6/2018.
- Bản kết luận giám định số 220/KLGĐ - PC54 ngày 06/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu M gửi giám là ma túy, loại Heroine (Hêrôin) có khối lượng 0,1230gam
- Lời khai của những người làm chứng là anh Phạm Văn L, sinh năm 1978 và ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1956 đều ở thôn HV, xã NC, huyện TH.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 06/6/2018, tại khu vực nghĩa trang thuộc địa phận thôn Năng Tĩnh, xã NC, huyện TH, Công an huyện TH phát hiện và bắt quả tang Phạm Văn Ph có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,1230 gam với mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện TH đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng
Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, làm suy thoái nòi giống con người, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về nhân thân, bị cáo Phạm Văn Ph có nhân thân xấu, năm 1998 bị Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có bổ đẻ là người tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng huy chương hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự là “Tái phạm”.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Trong lúc Đảng và Nhà nước ta đang kiên quyết đấu tranh với tệ nạn ma túy để đẩy lùi ma túy ra khỏi đời sống xã hội, bị cáo Phạm Văn Ph là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, sau khi ra tù trở về địa phương bị cáo không chịu tu chí cai nghiện để trở thành người lương thiện đến ngày 06/6/2018 bị cáo lại tiếp tục mua ma túy về để sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần mức hình phạt tù cho bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp và thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo Phạm Văn Ph là người nghiện ma túy không có việc làm ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Số Heroine thu giữ trong vụ án còn lại sau khi hoàn giám định là 0,0904gam, đây là loại nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc số Heroine: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Ph khai số Heroine là do bị cáo mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ cụ thể ở khu vực chợ Nam H với giá 100.000đồng. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TH không đủ cơ sở điều tra xác minh, làm rõ người bán ma túy cho Ph để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Ph phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 50, điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 điều 106, khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ph phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ph 01 (Một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/6/2018.
3/ Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau khi đã hoàn giám định còn lại là 0,0904 gam Heroine được niêm phong trong phong bì niêm phong số 220/KLGĐ- PC54.
(Vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện TH theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2018 giữa Công an huyện TH và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TH).
4/ Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Ph phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/9/2018.
| Nơi nhận: - VKSND huyện TH; - Công an huyện TH; - Chi cục THADS huyện TH; - Phòng KT Tòa án Tỉnh Thái Bình; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Chu Thị Linh |