vanban.org

Bản án 58/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 08/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn P phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý ”.

Áp dụng : Điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt Ngô Văn P 07 ( bảy) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 12 năm 2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn P phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn P phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2018/HS-ST
Ngày 08-05-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Trường

Ông Vũ An Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 05 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2018/HSST ngày 02 tháng 04 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2018/HSST-QĐXX ngày 24 tháng 04 năm 2018, đối với bị cáo:

Ngô Văn P, sinh ngày 06-06-1989 tại Thái Bình; nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã H, huyện TH, tỉnh Thái Bình; nơi ở: Số 727 Đường B, phường D, thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: thợ dán xe; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Viết P và bà Trần Thị H; tiền sự, tiền án: không; bị bắt ngày 14 tháng 12 năm 2017, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố VT (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 14-11-2017, đối tượng nghiện Nguyễn Văn T gọi đến điện thoại di động số 0886640035 gặp Ngô Văn P, hỏi mua 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000 đ và hẹn địa điểm tại khu vực trước số nhà 727 Đường B, phường D, thành phố VT. Tại điểm hẹn P bán 01 gói ma túy tổng hợp cho T với giá 200.000đ, thì bị các cơ quan chức năng bắt quả tang lúc 14 giờ 20 phút cùng ngày.

Thu giữ của P : 200.000đ (là tiền vừa nhận của T), 01 điện thoại di động hiệu Oppo kèm sim 0886640035. Thu trên tay T: 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (cả hai cùng khai là ma túy tổng hợp P vừa bán cho T).

Bản kết luận giám định số 292/GĐMT-PC54 ngày 29-12-2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín, niêm phong trong phong bì màu trắng, gửi đến giám định có khối lượng 0,0756 gam, là chất ma túy loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 29-03-2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Ngô Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy ” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo mức án từ 07 đến 08 năm tù.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo xác định chất ma túy tổng hợp có khối lượng 0,0756 gam loại Methamphetamine là của bị cáo mua của người thanh niên không rõ nhân thân tại khu vực CL thuộc phường N, thành phố VT với mục đích để sử dụng và bán cho đối tượng nghiện, trong đó bị cáo đã hai lần bán ma túy cho Nguyễn Văn T. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của Nguyễn Văn T, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 với tình tiết định khung là phạm tội nhiều lần.

So sánh thấy tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý ” theo Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về hình phạt đều như nhau, không quy định có lợi cho người phạm tội. Vì vậy, HĐXX quyết định vẫn áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 để quyết định trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm theo quy định pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú về hành vi phạm tội trước đó. Nên xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về xử lý vật chứng:

- 01 gói ma túy niêm phong số 292/GĐMT-PC54 ngày 29-12-2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là chất nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo viền vàng, mặt đáy màu trắng (kèm sim); bị cáo sử dụng làm phương tiện liên lạc phạm tội, nên tịch thu sung quỹ nhà nước;

- Số tiền 200.000 đ là tài sản do phạm tội mà có, nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về án phí : Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

V á trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn P phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý ”.

2. Áp dụng : Điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt Ngô Văn P 07 ( bảy) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 12 năm 2017.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy niêm phong số 292/GĐMT-PC54 ngày 29-12-2017;

- Tịch thu sung quỹ nhà nước : 01 điện thoại di động Oppo viền vàng, mặt đáy màu trắng ( kèm sim ) và số tiền 200.000 đ ( hai trăm ngàn đồng ).

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố VT quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 86/BB.THA ngày 05-04-2018 và Biên lai thu tiền số 0009353 ngày 05-04-2018.

4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng ( hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ