vanban.org

Bản án 58/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Xử cho anh Đinh Văn H được ly hôn với chị Phạm Thị H1.

Về con chung: Giao con chung Đinh Trung Đức, sinh ngày 16-10-2005 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, con chung Đinh Thị Chi đã trưởng thành nên không xét giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh chị xin tự giải quyết, không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Xử cho anh Đinh Văn H được ly hôn với chị Phạm Thị H1.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58 /2018/HNGĐ-ST
Ngày 16-11-2018
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Phạm Thị Khanh;

- Bà Nguyễn Thị Thu;

-Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2018/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2018 về việc “ly hôn và tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2018/QĐST – HNGĐ ngày 01-11-2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Đinh Văn H; nơi cư trú: Thôn 2, xã V T, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Chị Phạm Thị H1; ĐKHKTT: Thôn 2, xã V T, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: Khu dân cư H B, thị trấn V B, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn anh Đinh Văn H trình bày: Anh và chị Phạm Thị H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã V T, huyện V B, thành phố Hải Phòng vào ngày 15-9-1999. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc được đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, mâu thuẫn trong quản lý làm ăn kinh tế. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân với nhau từ tháng 8 năm 2017 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phạm Thị H1.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đinh Thị Chi, sinh ngày 16-6-2000 và Đinh Trung Đức, sinh ngày 16-10-2005. Trường hợp ly hôn anh đề nghị Tòa án giao con chung Đinh Trung Đức cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, con chung Đinh Thị Chị đã trưởng thành nên anh không yêu cầu giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh xin tự giải quyết với chị H1.

Về tài sản chung: Anh xin tự giải quyết với chị H1, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai chị Phạm Thị H1 xác nhận về thời gian, hoàn cảnh và điều kiện kết hôn như anh H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc được đến tháng 11 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng trong quản lý làm ăn kinh tế. Vợ chồng sống ly thân với nhau từ tháng 11 năm 2017 đến nay. Nay anh H xin ly hôn, chị không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị xác nhận về con chung như anh H trình bày là đúng. Trường hợp ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung Đinh Trung Đức cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, con chung Đinh Thị Chi đã trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị xin tự giải quyết với anh H.

Về tài sản chung: Chị xin tự giải quyết với anh H, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập chứng cứ cũng như các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm yêu cầu của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ, tham gia phiên tòa và các hoạt động tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật; bị đơn chấp hành chưa nghiêm. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Đinh Văn H được ly hôn với chị Phạm Thị H1. Về con chung: Giao con chung Đinh Trung Đức, sinh ngày 16-10-2005 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, con chung Đinh Thị Chi đã trưởng thành nên không xét giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự giải quyết. Tài sản chung tự giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Phạm Thị H1 đang cư trú tại Khu dân cư H B, thị trấn V B, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị H1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị H1 hai lần vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Anh Đinh Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Phạm Thị H1 và anh Đinh Văn H.

. Về quan hệ vợ chồng: Quan hệ vợ chồng giữa anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị H1 phát sinh từ ngày 15-9-1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V T, huyện V B, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, bất đồng trong quản lý làm ăn kinh tế. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, anh H yêu cầu được ly hôn. Qua xác minh tại địa phương thấy vợ chồng có mâu thuẫn. Vợ chồng hiện đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có căn cứ để xử cho anh Đinh Văn H được ly hôn với chị Phạm Thị H1 theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đinh Thị Chi, sinh ngày 16-6-2000 và Đinh Trung Đức, sinh ngày 16-10-2005. Con chung Đinh Thị Chi đã trưởng thành. Ly hôn anh chị đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung Đinh Trung Đức. Tòa xét, hiện nay con chung Đinh Trung Đức đang ở cùng anh H được anh chăm sóc tốt và cháu Đức có nguyện vọng muốn ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Để ổn định cuộc sống của cháu Đức cần chấp nhận yêu cầu giải quyết về con của anh H. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự giải quyết.

.Về tài sản chung: Vợ chồng tự giải quyết.

. Về án phí: Anh Đinh Văn H phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình,

Căn cứ Điều 147, 228, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho anh Đinh Văn H được ly hôn với chị Phạm Thị H1.

2. Về con chung: Giao con chung Đinh Trung Đức, sinh ngày 16-10-2005 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, con chung Đinh Thị Chi đã trưởng thành nên không xét giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh chị xin tự giải quyết, không xét giải quyết.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Anh H và chị H1 tự giải quyết.

4. Án phí: Anh Đinh Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu số 01049 ngày 08-6-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo. Anh H đã nộp đủ án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ