vanban.org

Bản án 58/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 27/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn A phạm tội:“ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt: Trần Văn A 02 (Hai ) 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/6/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn A phạm tội:“ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn A phạm tội:“ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TD
TỈNH VP
p

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58 /2017/HSST
Ngày 27 tháng 9 năm 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TD, TỈNH VP

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Sỹ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình La và bà Kiều Thị Thắng

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đỗ Minh Ái - Cán bộ Toà án nhân dân huyện TD, tỉnh VP.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD, tỉnh VP tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh VP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2017/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn A, sinh năm 1978;Trú tại: Thôn Gia, xã Hoàng Lâu, huyện TD, tỉnh VP; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 0/12; Con ông Trần Văn Định (Đã chết) và Trần Thị Thuần, sinh năm 1954;Vợ: Lê Thị Thanh, sinh năm 1977; con: có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2008 bị cáo bị Công an huyện Vĩnh Tường, tỉnh VP ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với mức phạt 200.000 đồng; năm 2015 bị Công an huyện Yên Lạc tỉnh VP ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với mức phạt là 2.000.000 đồng; Đã 02 lần đi cai nghiện ma túy bắt buộc.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2017 đến nay. Hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh VP.( có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Đình H, sinh năm 1978

Nơi cư trú: Tổ dân phố Vĩnh Thịnh 1, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh VP,( Vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Trần Văn A bị Viện kiểm sát nhân dân huyện TD, tỉnh VP truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14h00 ngày 01/06/2017, Phạm Đình H đang đi chơi ở xã Hoàng Lâu thì gặp một người bạn mới quen biết tên thường gọi là “Cu” và một nam thanh niên đi cùng. “Cu” rủ Hà vào nhà nghỉ Kiên Giang ở gần UBND xã Hoàng Lâu để sử dụng ma túy. Hà đồng ý và mượn xe máy của “Cu” đến nhà An để rủ An đi sử dụng ma túy đá cùng với Hà. Trước khi đi, Hà bảo An đem theo 01 vỏ chai nhựa, 01 ống hút nhựa và bật lửa ga để làm dụng cụ sử dụng ma túy đá. Sau đó Hà chở An đến phòng 203 của nhà nghỉ Kiên Giang. Khi vào phòng, Hà thấy “Cu” và bạn của “Cu” đang ở trong phòng, An bỏ chai nhựa, ống hút và bật lửa ga ra để trên giường, sau đó “Cu” lấy 01 gói nhỏ ma túy đá và một ống coóng thủy tinh, “Cu” lấy ma túy đá cho vào ống coóng rồi cắm vào chai nhựa. An dùng bật lửa ga đốt nóng chảy ma túy đá trong ống rồi 04 đối tượng cùng nhau sử dụng ma túy đá bằng hình thức hút.

Sau khi sử dụng, “Cu” lấy ra 01 gói ma túy đá được gói bằng nilon màu trắng đưa cho An, bảo An cất để lát nữa sử dụng tiếp. An đồng ý và cầm gói ma túy đúc vào túi quần bên phải An đang mặc. Sau đó, “Cu” và nam thanh niên mặc áo phông xám là bạn của “Cu” đi ra ngoài. Khoảng 2 đến 3 phút sau thì lực lượng Công an kiếm tra phát hiện. Thu trong túi quần bên phải đang mặc của An 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể dạng đá, niêm phong kí hiệu A1; Thu giữ 01 chai nhựa màu trắng, trên nắp chai có gắn 01 ống hút nhựa màu xanh; 01 bật lửa ga màu tím và 01 ống coóng thủy tinh màu trắng. Cơ quan công an đã thu giữ toàn bộ tang vật và lập biên bản phạm tội quả tang đối với An về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh VP ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật, tài sản tại nơi ở của An, đã thu giữ: 01 chai nhựa màu trắng trên nắp chai có khoét 02 lỗ nhỏ hình tròn và 10 ống hút nhựa màu trắng (mỗi ống dài khoảng 30cm).

Ngày 01/06/2017, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh VP đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 221, trưng cầu Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh VP giám định 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể dạng đá, được niêm phong kí hiệu A1. Tại bản kết luận giám định số 544/KLGĐ ngày 02/06/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự kết luận: Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu kí hiệu A1 gửi đến giám định có khối lượng (trọng lượng) là 7,1081 gam (không kể bao bì) có Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, TT 67, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính Phủ. Trọng lượng Methamphetamine trong 7,1081 gam mẫu là 5,3544 gam.

Về nguồn gốc ma túy: An khai là của đối tượng tên là “Cu” đưa cho An để sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác. (tức “Cu”) đưa gói ma túy cho An khoảng 35 tuổi, cao khoảng 1m65, người bình thường, da trắng, tóc đen cắt ngắn. Quá trình điều tra không xác minh được tên tuổi cụ thể nên không đề cập giải quyết.

Đối với Hà là đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với An và hai người bạn của Hà tại phòng 203 nhà nghỉ Kiên Giang. Việc “Cu” đưa 01 gói ma túy cho An, Hà có biết nhưng giữa Hà và An không có sự bàn bạc trao đổi gì đã bị phát hiện bắt giữ. Hiện tại Hà không có mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với hai người nam giới bạn của Hà trong quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với Trần Thị Thành là chủ nhà nghỉ Kiên Giang để xảy ra việc sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy trong nhà nghỉ do mình quản lý. Nhưng chị Thành đã trực tiếp báo tin cho Cơ quan công an kịp thời phối hợp bắt giữ, nên không xử lý gì đối với chị Thành.

Tại Cáo trạng số 59/KSĐT-MT ngày 11tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TD truy tố bị cáo Trần Văn A về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng Khoản 1 Điều 249, của Bộ luật hình sự năm 2015, Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt An từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng Khoản 5 Điều 194 để phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Trần Văn A đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 01/06/2017 An, Hà cùng một người bạn thường gọi là “Cu” và một nam thanh niên đi cùng “Cu” sử dụng ma túy đá tại phòng 203 nhà nghỉ Kiên Giang gần UBND xã Hoàng Lâu. Sau khi sử dụng xong, “Cu” đưa cho An 01 gói nhỏ chứa ma túy đá rồi cùng bạn ra ngoài. An cất gói ma túy đá có vào túi quần để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Tại bản kết luận giám định số 544/KLGĐ ngày 02/06/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự kết luận: 01 gói ma túy thu giữ trong túi quần của An có khối lượng (trọng lượng) là 7,1081 gam ma túy Methamphetamine đây là chất ma túy nằm trong danh mục II, TT 67, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính Phủ. Trọng lượng Methamphetamine trong 7,1081 gam mẫu là 5,3544 gam.

Hành vi nêu trên của An đã phạm vào tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù. Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 thì có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Như vậy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi , bổ sung theo Luật số 12/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì phải xét xử An theo khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội.

Khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05năm:

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;”

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự, trị an và an toàn xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân làm ảnh hưởng đến phòng trào phòng chống tội phạm trên địa bàn huyện TD nói riêng và của tỉnh VP nói chung, nên cần xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử đã cân nhắc, xem xét đến tính chất cũng như mức độ thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy rằng: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 46 của Bộ luật hình sự để Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về gia đình và xã hội.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng Khoản 5 Điều 194 để phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với Hà là đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với An và hai người bạn của Hà tại phòng 203 nhà nghỉ Kiên Giang. Việc “Cu” đưa 01 gói ma túy cho An, Hà có biết nhưng giữa Hà và An không có sự bàn bạc trao đổi gì thì đã bị phát hiện bắt giữ. Hiện tại Hà không có mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với hai người nam giới bạn của Hà trong quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý, yêu cầu tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Trần Thị Thành là chủ nhà nghỉ Kiên Giang để xảy ra việc sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy trong nhà nghỉ do mình quản lý. Nhưng chị Thành đã trực tiếp báo tin cho Cơ quan công an kịp thời phối hợp bắt giữ, nên không xử lý gì đối với chị Thành là có căn cứ.

Đối với vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu trả bên trong kí hiệu A1=4.9569 gam và bao gói được hoàn trả sau giám định, 01 chai nhựa màu trắng trên nắp chai có gắn 01 ống hút nhựa màu xanh; 01 bật lửa ga màu tím, 01 ống coóng thủy tinh màu trắng thu giữ tại phòng 203 nhà nghỉ Kiên Giang, 01 chai nhựa màu trắng trên nắp chai có khoét 02 lỗ nhỏ hình tròn và 10 ống hút nhựa màu trắng thu giữ trong quá trình khám xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn A phạm tội:“ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt: Trần Văn A 02 (Hai ) 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/6/2017.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu trả bên trong kí hiệu A1=4.9569 gam và bao gói được hoàn trả sau giám định, 01 chai nhựa màu trắng trên nắp chai có gắn 01 ống hút nhựa màu xanh; 01 bật lửa ga màu tím, 01 ống coóng thủy tinh màu trắng, 01 chai nhựa màu trắng trắng trên nắp chai có khoét 02 lỗ nhỏ hình tròn và 10 ống hút nhựa màu trắng

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn A phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Viện kiểm sát nhân dân huyện TD;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà.

- Công an huyện TD;

- Chi cục thi hành án dân sự huyện TD;

- UBND xã Hoàng lâu,huyện TD

- Bị cáo;

- Lưu: HS, VP.

Hoàng Văn Sỹ

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Hoàng Văn Sỹ

Cỡ chữ