vanban.org

Bản án 58/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 17/07/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/07/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, giữ nguyên bản án sơ thẩm như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 54 (năm tƣ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (14/01/2017). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị N - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, giữ nguyên bản án sơ thẩm như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TAND TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2017/HSPT
Ngày: 17/7/2017
“Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Đình Hân.

Các Thành viên: - Ông Nguyễn Mạnh Cƣờng - Thẩm phán

- Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Thẩm phán

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Văn Vụ, Thƣ ký viên TAND tỉnh.

Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Yến, KSV.

Ngày 17 tháng 7năm 2017, tại trụ sở TAND tỉnh Hải Dƣơng, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 88/2017/HSPT ngày 26/6/2017, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2017/HSST ngày 25/5/2017 của TAND thành phố Hải Dƣơng, do Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng kháng nghị đối với bị cáo sau đây:

Nguyễn Thị N, sinh năm 1971.

Cƣ trú tại: Số 5/43 phố T, phƣờng Đ, thành phố H, tỉnh Hải Dƣơng.

Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: Lớp 7/12 - Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông Nguyễn Hữu A và bà Nguyễn Thị B (đã chết).

Chồng: Phạm Văn C, hiện đang bị tạm giam ở vụ án khác. Bị cáo có hai con, lớn sinh 1995, nhỏ sinh năm 2005.

Nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự, bị bắt tạm giam từ ngày 14/01/2017, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát và bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Với mục đích mua ma túy để bán kiếm lời, sáng ngày 12/01/2017, một ngƣời tên Z (không biết họ, địa chỉ) đến chơi và bán cho N 4 túi ma túy tổng hợp với giá 2.500.000đ/túi, N mới trả Z 3.000.000đ. Ngoài ra, Z còn cho N một túi nilon trong có 8 viên nén màu ghi xám, trên mặt có chữ K. Sau khi mua đƣợc ma túy, N cất giấu 3 túi vào túi quần đang phơi ở hành lang, một túi chứa các viên nén giấu trên cục nóng điều hòa, một túi N chia thành 32 túi nhỏ rồi cất 16 túi nhỏ ở thùng đựng quần áo, 16 túi còn lại N mang theo ngƣời để bán. Khoảng 10h ngày 14/01/2017, khi N đang đứng trƣớc cửa nhà số 5/43 phố T, phƣờng Đ, thành phố H thì Nguyễn Văn P ở khu 5 phƣờng L, thành phố H đến hỏi mua 01 túi ma túy tổng hợp với số tiền 200.000đ. Trong lúc N đang nhận tiền và giao ma túy cho P thì bị Công an tỉnh Hải Dƣơng phát hiện bắt quả tang, khám xét và thu giữ toàn bộ tang vật bị cáo cất giấu trong nhà.

Tại Bản kết luận giám định số 259A/C54 (TT2) ngày 02/03/2017, Viện V, Bộ công an đã kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon (mẫu ký hiệu 1) gửi giám định có Methamphetamine, trong lƣợng 0,129gam.

Tinh thể màu trắng trong 15 túi nilon (mẫu ký hiệu 3) gửi giám định đều có Methamphetamine, trong lƣợng 3,261gam.

Tinh thể màu trắng trong 15 túi nilon (mẫu ký hiệu 4) gửi giám định đều có Methamphetamine, trong lƣợng 2,390gam và tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon (mẫu ký hiệu 4) gửi giám định không có chất ma túy, trọng lƣợng 0,197gam.

Tinh thể màu trắng trong 03 túi nilon (mẫu ký hiệu 5) gửi giám định đều có Methamphetamine, trong lƣợng 16,586gam.

Các viên nén trong túi nilon (mẫu ký hiệu 6) gửi giám định đều có MDMA, trong lƣợng 1,949gam.

Tại bản kết luận giám định số 169/C54 (TT2) ngày 19/5/2017, Viện V, Bộ Công an kết luận: Hàm lƣợng Methamphetamine trong các mẫu ký hiệu số 1,3,4 (15 túi) và số 5 gửi giám định lần lƣợt có hàm lƣợng là 67,7%; 64,4%; 65,3% và 64,2%; hàm lƣợng MDMA trung bình trong mẫu ký hiệu số 6 gửi giám định là 14,8%.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Thị N khai nhận hành vi mua, bán trái phép chất ma túy và bị bắt giữ cùng tang vật nhƣ nêu trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2017/HSST ngày 25/5/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng đã áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm a,b,c khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a,c,d khoản 2 Điều 76; Điều 99 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 54 (năm tƣ) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy). Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/6/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng có Quyết định kháng nghị số 09/QĐKNPT-VKS, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dƣơng xét xử phúc thẩm, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 85/2017/HSST ngày 25/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng theo hƣớng áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194 BLHS và tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị N.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị N xác định, khoảng 10h ngày 14/01/2017, khi bị cáo đang bán ma túy cho Nguyễn Văn P thì bị Công an tỉnh Hải Dƣơng phát hiện, bắt giữ cùng tang vật và đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng xử phạt 54 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dƣơng tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng và xác định: Hành vi bán ma túy cho Nguyễn Văn P vào khoảng 10h ngày 14/01/2017 của Nguyễn Thị N đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng quy kết về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng đã căn cứ hàm lƣợng chất ma túy đƣợc xác định tại Bản kết luận giám định số 169/C54(TT2) ngày 19/5/2017 của Viện V, Bộ Công an để xác định trọng lƣợng các chất ma túy ở thể rắn do Nguyễn Thị N mua bán trái phép là 14,880gam và xử phạt Nguyễn Thị N 54 tháng tù theo khoản 1 Điều 194 BLHS là không đúng quy định của pháp luật và hƣớng dẫn tại Thông tƣ liên tịch số 17/2007/TTLT, Thông tƣ liện tịch số 08/2015/TTLT của liên ngành Trung ƣơng hƣớng dẫn áp dụng một số quy định tại chƣơng XVIII “Các tội phạm về ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Bản kết luận giám định số 259A/C54 (TT2) ngày 02/03/2017 của Viện V, Bộ Công an, xác định trọng lƣợng ma túy bị cáo Nguyễn Thị N mua bán là 24,512gam và sửa bản án sơ thẩm theo hƣớng áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 7 năm 3 tháng đến 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH

1. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng.

2. Về nội dung:

Lời khai nhận của Nguyễn Thị N tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ nhƣ: Biên bản phạm pháp quả tang, tang vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định của Viện V Bộ Công an, lời khai ngƣời làm chứng, lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Có đủ cơ sở xác định, khoảng 10h ngày 14/01/2017, tại trƣớc cửa nhà số 5/43 phố T, phƣờng Đ, thành phố H, Nguyễn Thị N đã có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Văn P thì bị Công an phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Hành vi trên của Nguyễn Thị N đã vi phạm Điều 194 BLHS, nên đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng quy kết về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát thành phố Hải Dƣơng và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm, thấy rằng: Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng đã trƣng cầu giám định để xác định hàm lƣợng chất ma túy trong các mẫu vật thu giữ của Nguyễn Thị N là cần thiết và đúng quy định tại Điều 194 BLHS. Căn cứ hàm lƣợng chất ma túy đƣợc xác định tại Bản kết luận giám định số 169/C54 (TT2) ngày 19/5/2017 của Viện V, Bộ Công an, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng đã xác định tổng trọng lƣợng chất ma túy “Methamphetamine và MDMA” bị cáo Nguyễn Thị N mua, bán là 14,880gam (dưới định lượng theo hướng dẫn tại điểm e mục 3.3 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT ngày 24/12/2007 của liên ngành tư pháp Trung ương hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “các tội phạm về ma túy”), nên đã áp dụng khoản 1 Điều 194 và tình tiết giảm nhẹ tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS, xử phạt Nguyễn Thị N 54 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Do vây, không có cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dƣơng tại phiên tòa. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, giữ nguyên bản án sơ thẩm như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 54 (năm tƣ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (14/01/2017).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (17/7/2017)./.

Cỡ chữ