vanban.org

Bản án 579/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thu H. Chị Phạm Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Đình H. Về con chung: Xác nhận chị Phạm Thị Thu H và anh Nguyễn Đình H có 02 con chung là Nguyễn Đình Minh T, sinh ngày 29/06/2007, Nguyễn Đình Minh P, sinh ngày 02/07/2013. Sau ly hôn, giao cháu Nguyễn Đìn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 579 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 20/12/2022
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Vinh

2. Ông Nguyễn Anh Đức

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 512/2022/TLST-HNGĐ ngày 01/11/2022 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 110/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12/12/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Phạm Thị Thu H, sinh năm 1986 (có mặt)

HKTT: Đội 5, thôn N, xã T, huyện T, Hà Nội

Chỗ ở: P1504, tòa CT1-A2, chung cư V, xã V, huyện H, Hà Nội

Bị đơn: anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1985 (có mặt)

HKTT: Đội 5, thôn N, xã T, huyện T, Hà Nội

Chỗ ở: Đội 5, thôn N, xã T, huyện T, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, chị Phạm Thị Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 21/3/2007 tại UBND xã T, huyện T, Hà Nội. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại Đội 5, thôn N, xã T, T, Hà Nội. Anh chị chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H thường xuyên chửi bới, đánh đập chị. Đến tháng 6/2022, chị H không thể chịu đựng được nữa nên đã về nhà mẹ đẻ sinh sống. Đến tháng 8/2022, chị H quay lại tiếp tục chung sống với anh H nhưng vẫn bị anh H đánh đập. Mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng nghiêm trọng nên chị H lại tiếp tục chuyển về nhà mẹ đẻ sinh sống cho đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn với anh H.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung, là Nguyễn Đình Minh T, sinh ngày 29/06/2007, Nguyễn Đình Minh P, sinh ngày 02/07/2013. Từ sau khi sống ly thân, chị H vẫn về nhà thăm các con nhưng anh H đều ngăn cấm, dọa nạt chị và các cháu. Sau ly hôn, chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Pvà giao cháu T cho anh H nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H hiện đang làm công nhân của Công ty Dệt len Đà Lạt, thu nhập trung bình khoảng 10.000.000 đồng/tháng. Trường hợp được nuôi con, chị và con sẽ chuyển về nhà mẹ đẻ ở N sinh sống. Bố mẹ chị cũng đồng ý cho chị và các con ở tại đây.

Về tài sản chung, nhà đất và công nợ: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn, anh Nguyễn Đình H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh H xác nhận chị H trình bày về quá trình anh chị kết hôn, chung sống là đúng sự thật. Anh chị chung sống đến tháng 7/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H đi làm giờ giấc thất thường, bỏ bê, không chăm lo con cái. Những lần đi làm về muộn, đi chơi ăn uống cũng không báo cho anh, nhắn tin, gọi điện không liên hệ được, làm cả nhà lo lắng đi tìm. Nay chị H xin ly hôn, anh nhận thấy vợ chồng không tiếp tục chung sống được nên anh đồng ý.

Về con chung: Anh H xác nhận anh chị có 02 con chung như chị H trình bày. Trường hợp ly hôn, anh H xin được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Anh hiện đang làm lái xe cho công ty cổ phần nước và xây dựng Đ, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng. Trường hợp được nuôi con, anh và các con sẽ ở nhà bố mẹ anh hiện nay tại xã T, huyện T, Hà Nội. Anh không đồng ý cho chị H nuôi con do thu nhập của chị H không tốt. Khi sống ly thân, anh có ngăn cản chị H thăm con là do chị H bỏ nhà đi nên không có tư cách của người mẹ.

Về tài sản chung, nhà đất và công nợ: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

- Các đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử điều khiển phiên tòa theo đúng trình tự, thủ tục. Các đương sự chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thu H, chị H được ly hôn anh Nguyễn Đình H; Về con chung: Giao cháu T cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Pcho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh H, chị H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung, nhà đất, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị H phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, các chứng cứ và tài liệu do các đương sự xuất trình, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

1.1. Về quan hệ pháp luật: Chị Phạm Thị Thu H đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Đình H. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Nguyễn Đình H có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện T, Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu H và anh Nguyễn Đình H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 21/3/2007 tại UBND xã T, huyện T, Hà Nội. Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H thường xuyên chửi bới, đánh đập chị H. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên anh chị đã sống ly thân và chấm dứt quan hệ tình cảm từ tháng 8/2022 đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn với anh H. Anh H cũng đồng ý ly hôn với chị H do chị H không có trách nhiệm với gia đình nên vợ chồng không còn tình cảm.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương xác định chị H và anh H có mâu thuẫn về tình cảm, hai bên không sống cùng nhà với nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, chị H và anh H mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị H được ly hôn anh H.

2.2. Về con chung: Chị Phạm Thị Thu H và anh Nguyễn Đình H có 02 con chung là Nguyễn Đình Minh T, sinh ngày 29/06/2007, Nguyễn Đình Minh P, sinh ngày 02/07/2013. Sau ly hôn, chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu P và giao cháu T cho anh H nuôi dưỡng, giáo dục. Anh H xin được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng. Cháu T xin ở với ai cũng được, cháu Pxin ở với chị H. Chị H, anh H đều có công việc, thu nhập và chỗ ở ổn định.

Hội đồng xét xử xét thấy, nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chung của anh chị là chính đáng. Chị H, anh H đều có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Trên cơ sở quy định của pháp luật, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự, có xét đến nguyện vọng của con chung và để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống, học tập, sinh hoạt cũng như tâm lý phát triển của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu T cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

Các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi các đương sự có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác. Các đương sự có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

2.3. Về tài sản chung, nhà đất, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Phạm Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thu H. Chị Phạm Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Đình H.

2. Về con chung: Xác nhận chị Phạm Thị Thu H và anh Nguyễn Đình H có 02 con chung là Nguyễn Đình Minh T, sinh ngày 29/06/2007, Nguyễn Đình Minh P, sinh ngày 02/07/2013. Sau ly hôn, giao cháu Nguyễn Đình Minh T cho anh Nguyễn Đình H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Nguyễn Đình Minh Pcho chị Phạm Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi các đương sự có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác. Chị H, anh H có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nhà đất và công nợ: Chị Phạm Thị Thu H, anh Nguyễn Đình H không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 62996 ngày 28/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T. Chị H đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ