- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng B đối với bị đơn là ông Hồ Nguyễn Xuân T1.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 118 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 578/2026/DS-ST Ngày: 20/4/2026 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Tứ Nhị
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đào Thị Hồng Hạnh
2. Ông Lê Hoàng Phú
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 7 tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài – Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1404/2025/TLST-DS ngày 09/12/2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 277/2026/QĐXXST - DS ngày 02/3/2026 (Quyết định hoãn phiên tòa số 237/2026/QĐST – DS ngày 26/3/2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng B
Trụ sở: phường Q, TP Hà Nội
Người đại diện: Bà Võ Thị T
Văn bản ủy quyền số 2307/2025/UQ – VPB ngày 18/11/2025
Bị đơn: Ông Hồ Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1997
Địa chỉ: phường W, quận G, TPHCM
(Nay là phường E, thành phố Hồ Chí Minh)
(Đại diện nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng B và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 07/12/2023 ông Hồ Nguyễn Xuân T1 ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử (số hợp đồng LD2334201794). Ngân hàng đã duyệt cho ông T1 vay cấp tín dụng số tiền 87.600.000 đồng để phục vụ nhu cầu đời sống. Thời hạn vay là 60 tháng. Lãi suất 42%/ năm trong ba tháng đầu sau khi giải ngân, sau đó cộng biên độ 1% theo định kỳ 03 tháng 01 lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1 thanh toán nợ gốc và lãi số tiền 14.650.132 đồng. Vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 15/5/2024, nên ngân hàng chuyển dư nợ sang tính lãi quá hạn từ ngày 15/5/2024 đến nay.
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 05/11/2025, ngân hàng tạm tính dư nợ đến 05/11/2025 là 165.081.250 đồng. Trong đó nợ gốc là 86.066.022 đồng và nợ lãi quá hạn là 49.015.228 đồng. Yêu cầu ông T1 thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật; Và lãi phát sinh tính từ ngày 06/11/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, có nộp bản tự khai và bảng tóm tắt sao kê đến ngày 20/4/2026. Theo đó, dư nợ gốc 86.066.022 đồng + nợ lãi quá hạn 110.341.881 đồng (86.066.022 đồng x 42%/ năm (+ biên độ 1% điều chỉnh định kỳ 3 tháng một lần) x 150% từ 15/5/2024 đến 20/4/2026) = 196.407.903 đồng. Các yêu cầu khác giữ nguyên.
Bị đơn vắng mặt không ghi nhận được ý kiến.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án, Thẩm phán thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng; Đảm bảo thời hạn xét xử, gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu đúng quy định tại Điều 203, khoản 2 Điều 220 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án.
Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận của hợp đồng cho đến khi thi hành án xong.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm tính trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn. Hoàn lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Tòa án nhận định:
. Về tố tụng:
1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Bị đơn vay tiền của nguyên đơn để phục vụ nhu cầu tiêu dùng nên xác định giữa bị đơn và nguyên đơn có giao kết hợp đồng dân sự vay tài sản thông qua hình thức cấp tín dụng nên đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015 và Luật tổ chức tín dụng.
Đối với bị đơn là ông Hồ Nguyễn Xuân T1, Tòa án đã triệu tập bị đơn tại địa chỉ phường W, quận G (nay là phường E), thành phố Hồ Chí Minh, là địa chỉ nguyên đơn cung cấp. Tại thời điểm tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án ông T1 vắng mặt. Tòa án tiến hành xác minh về tình trạng cư trú của ông T1 thể hiện: “Ông Hồ Nguyễn Xuân T1, đăng ký thường trú tại phường W, quận G (nay là phường E), thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện không thực tế cư trú tại đây”. Điều này cho thấy người khởi kiện cung cấp đầy đủ, đúng địa chỉ cư trú của người bị kiện, phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
1.2 Về người tham gia tố tụng:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý đến khi xét xử nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đương sự không đến tòa án để tham gia phiên tòa giải quyết vụ án là đã tước bỏ quyền được chứng minh của mình, đương sự phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung quy định tại khoản 4 Điều 91; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu của các đương sự:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, bản tự khai, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 07/12/2023 (số hợp đồng LD2334201794); Và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có cơ sở để khẳng định: Nguyên đơn có cấp tín dụng cho bị đơn để tiêu dùng. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong quá trình thực hiện hợp đồng. Tính đến thời điểm xét xử, dư nợ gốc và lãi của khoản tín dụng chưa thanh toán là: Nợ gốc 86.066.022 đồng + nợ lãi 110.341.881 đồng (tính từ 15/5/2024 đến 20/4/2026) = 196.407.903 đồng.
Xét thấy, nguyên đơn cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, đã tính đúng về nợ gốc và lãi. Nội dung yêu cầu của nguyên đơn được các bên tự nguyện thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử (số hợp đồng LD2334201794) ngày 07/12/2023. Chủ thể ký kết nội dung và hình thức giao kết phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 của Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 nên Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc các bên phải thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận. Bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi, phí theo thỏa thuận giữa hai bên được ký kết trong hợp đồng tính từ thời điểm xét xử cho đến khi thi hành án xong.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa là phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 4 Điều 91, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 117, 118, 119, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);
Căn cứ Luật phí và lệ phí và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng B đối với bị đơn là ông Hồ Nguyễn Xuân T1.
Buộc ông Hồ Nguyễn Xuân T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng B số tiền là 196.407.903 đồng (Một trăm chín mươi sáu triệu, bốn trăm lẻ bảy ngàn, chín trăm lẻ ba đồng). Trong đó nợ gốc 86.066.022 đồng (Tám mươi sáu triệu, không trăm sáu mươi sáu ngàn, không trăm hai mươi hai đồng) và nợ lãi là 110.341.881 đồng (Một trăm mười triệu, ba trăm bốn mươi mốt ngàn, tám trăm tám mươi mốt đồng). Theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử (số hợp đồng LD2334201794) ngày 07/12/2023.
Ông Hồ Nguyễn Xuân T1 còn phải tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận của hợp đồng kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Hồ Nguyễn Xuân T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.820.395 đồng (Chín triệu, tám trăm hai mươi ngàn, ba trăm chín mươi lăm đồng).
- Hoàn tiền tạm nộp án phí cho Ngân hàng B là 4.127.031 đồng (bốn triệu, một trăm hai mươi bảy ngàn, không trăm ba mươi mốt đồng) theo biên lai thu số 0047183, ngày 08/12/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo và kháng nghị bản án: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - THADS TPHCM; - VKSNDKV7; - Đương sự; - Lưu VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Tứ Nhị |