vanban.org

Bản án 576/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về việc thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định về …

58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRANH CHẤP LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về việc thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định về …
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 576/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30/9/2025
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Tiên

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kính

2. Ông Danh Cư

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân

Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Nhàn – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 -

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 237/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 486/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 460/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Phương K, sinh năm 1987; Địa chỉ: số a, đường

b, xã Hưng Long, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1986; Địa chỉ: số c đường d,

phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh: Địa chỉ cư trú: nhà không số kế số e, phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/02/2025 nộp Tòa án nhân dân Quận 8,

Thành phố Hồ Chí Minh nay là Toà án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/02/2025 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ nguyên đơn bà Lê Thị Phương K trình bày:

Bà Lê Thị Phương K và ông Nguyễn Thành T tự nguyện chung sống với

nhau từ năm 2006 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Bình Đông (Phường 7, Quận 8 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 07/02/2007. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến năm 2019 mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do không hợp nhau, không tôn trọng nhau, không cùng tiếng nói chung đến năm 2021 vợ chồng sống ly thân. Nay tình cảm vợ chồng không còn nưa, dù hai bên cố gắng hoà giải đoàn tụ gia đình nhưng không thành, không thể duy trì cuộc hôn nhân, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị Phương K yêu cầu Toà án cho bà K được ly hôn với ông Nguyễn Thành T.

Về nuôi con chung: Bà Lê Thị Phương K xác định vợ chồng chung sống

với nhau có 02 (hai) con chung tên là Nguyễn Lê Phương V ngày 03/6/2007 và Nguyễn Lê Quý B, sinh ngày 18/5/2018, ngoài ra không còn con chung nào khác. Hiện nay hai trẻ đang sống cùng bà Lê Thị Phương K. Bà K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) trẻ Nguyễn Lê Phương V và Nguyễn Lê Quý B không yêu cầu ông Nguyễn Thành T cấp dưỡng nuôi con.

Toà án giải thích nghĩa vụ của cha mẹ đối với con, việc người trực tiếp

nuôi con và nghĩa cấp dưỡng nuôi con, quyền lợi của con trẻ cho các đương sự rõ theo Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2024. Bà Lê Thị Phương K nghe và hiểu rõ tuy nhiên bà K vẫn bảo lưu ý kiến về không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con vì bà Lê Thị Phương K đủ điều kiện nuôi dưỡng 02 (hai) con chung, bà K tạo điều kiện tốt nhất để 02 (hai) trẻ Nguyễn Lê Phương V và Nguyễn Lê Quý B sinh hoạt, học tập và phát triển tốt.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối

với bị đơn ông Nguyễn Thành T đến Tòa án để tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Phương K nên Tòa án không thể tiến hành thu thập được lời khai của ông Nguyễn Thành T và không hòa giải được.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn bà Lê Thị Phương K có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị

đơn ông Nguyễn Thành T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh

phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã

tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi xét xử theo quy định pháp luật tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong

quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của

nguyên đơn theo quy định tại các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Lê Thị Phương K có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt

nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà Lê Thị Phương K.

Bị đơn ông Nguyễn Thành T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ

hai để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải mà vẫn vắng mặt. Do vậy, theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Thành T đã được Tòa án triệu tập hợp

lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông Nguyễn Thành T vắng mặt không có lý do. Do vậy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thành T.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét đơn yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Phương K thì đây là tranh chấp ly hôn theo yêu cầu một bên, do bị đơn ông Nguyễn Thành T hiện cư trú tại phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về việc thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định về thẩm quyền phạm vi lãnh thổ của Toà án nhân dân khu vực.

Về các yêu cầu của đương sự:

Xét thấy, bà Lê Thị Phương K và ông Nguyễn Thành T tự nguyện chung

sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 1/2007 ngày 07/02/2007) nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận phù hợp với Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Phương K cho rằng: Mâu thuẫn

vợ chồng phát sinh từ năm 2019 vì không hợp nhau, không tôn trọng nhau, bất đồng quan điểm sống vợ chồng không còn tiếng nói chung, vợ chồng sống không hạnh phúc. Vợ chồng tôi đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Dù hai bên đã cố gắng nhiều lần hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không thành. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không thể duy trì cuộc hôn nhân dù hai bên đã cố gắng nhiều lần hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không thành, tình cảm vợ chồng không còn nữa, tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị Phương K yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Thành T.

Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Thành T đến Tòa để trình bày ý

kiến tự khai, tạo điều kiện cho vợ chồng hòa giải, hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng ông Nguyễn Thành T vẫn vắng mặt mà không có lý do và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Phương K. Điều này thể hiện ông Nguyễn Thành T đã từ bỏ quyền lợi của mình, không còn tha thiết đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trầm trọng trong thời gian dài, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ cần chấp nhận.

Về nuôi con chung: Bà Lê Thị Phương K xác định vợ chồng chung sống

với nhau có 02 (hai) con chung tên là Nguyễn Lê Phương V, sinh ngày 03/6/2007 và Nguyễn Lê Quý B, sinh ngày 18/5/2018, ngoài ra không còn con chung nào khác. Hiện nay hai trẻ đang sống cùng bà Lê Thị Phương K. Bà K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) trẻ Nguyễn Lê Phương V và Nguyễn Lê Quý B không yêu cầu ông Nguyễn Thành T cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng

phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con trẻ, trẻ tên Nguyễn Lê Phương V, sinh ngày 03/6/2007 và Nguyễn Lê Quý B, sinh ngày 18/5/2018, hiện đang sinh sống cùng bà Lê Thị Phương K tại địa chỉ: số a, đường b, xã Hưng Long, Thành phố Hồ Chí Minh. Bản tự khai ngày 23/4/2025 của trẻ Nguyễn Lê Phương V có nguyện vọng được sống với mẹ là bà Lê Thị Phương K. Bà K sau khi đã được Toà án giải thích nghĩa vụ của cha mẹ đối với con, việc người trực tiếp nuôi con và nghĩa cấp dưỡng nuôi con, quyền lợi của con trẻ cho bà K nghe, hiểu rõ theo Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2024. Bà Lê Thị Phương K vẫn bảo lưu ý kiến là bà K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) trẻ Nguyễn Lê Phương V, sinh ngày 03/6/2007 và Nguyễn Lê Quý B, sinh ngày 18/5/2018 không yêu cầu ông Nguyễn Thành T cấp dưỡng nuôi con. Để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con chung, việc giao con chung cho bà Lê Thị Phương K tiếp tục nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông Nguyễn Thành T cho đến khi bà Lê Thị Phương K có yêu cầu là phù hợp. Ông Nguyễn Thành T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai có quyền ngăn cản quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và Gia đình. Nếu sau khi ly hôn bà Lê Thị Phương K và ông Nguyễn Thành T có yêu cầu tranh chấp về người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con thì giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Về tài sản chung: Bà Lê Thị Phương K xác định không có nên không yêu

cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà Lê Thị Phương K xác định vợ chồng không có khoản

nợ chung nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực

10 - Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn

cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36,

điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về việc thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định về thẩm quyền phạm vi lãnh thổ của Toà án nhân dân khu vực;

- Các Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều

58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

- Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng

Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Phương K về

việc xin ly hôn với ông Nguyễn Thành T.

- Về hôn nhân: Bà Lê Thị Phương K được ly hôn với ông Nguyễn Thành

T (theo giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 1/2007 của Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/02/2007).

- Về nuôi con chung: Giao 02 (hai) con chung tên là Nguyễn Lê Phương

V, sinh ngày 03/6/2007 và trẻ Nguyễn Lê Quý B, sinh ngày 18/5/2018 cho bà Lê Thị Phương K trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con đối với ông Nguyễn Thành T cho đến khi bà Lê Thị Phương K có yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm

sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ

chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Lê Thị Phương K xác định không có nên không

yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Lê Thị Phương K xác định vợ chồng không có khoản

nợ chung nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Lê Thị

Phương K phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0068554 ngày 27/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị Phương K đã nộp đủ án phí.

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ