vanban.org

Bản án 576/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa ông V và bà L"
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 576/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 08-8- 2019.
V/v Ly hôn giữa ông V và bà L

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Bảy

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Bích Thuận

2. Bà Nguyễn Thị Lưu Ly;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức- Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dịu Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2019/TLST-HNGĐ ngày 08/01/2019, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2019/QĐSTXX-HNGĐ ngày 11/6/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 76/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11/7/2019, giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Hoàng V, sinh năm 1976

Địa chỉ: Số A đường B, Phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh

2. Bị đơn: Bà Võ Ngọc L, sinh năm 1975

Địa chỉ: Số C đường H, Phường N, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Hoàng V trình bày: ông V và bà Võ Ngọc L chung sống với nhau từ năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường M, Quận P, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 10/7/2010

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó phát sinh mâu thuẩn và không thể hàn gắn được nên bà L về nhà mẹ ruột ở từ tháng 5 năm 2018 đến nay, giữa hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung, đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Mặc dù hai bên đã tự hòa giải, hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng vẫn không có kết quả. Ông V và bà L đã sống ly thân từ hơn 01 năm nay. Hiện nay, ông V xác định không còn tình cảm có nguyện vọng được ly hôn với bà L

- Về con chung: Có 01 con chung, tên Trần Hoàng Hữu T, sinh ngày 17/01/2013, ông V yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: ông V tự khai không có;

- Về nợ chung: Ông V tự khai không có.

Bị đơn: Bà L vắng mặt, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đến tòa để làm Bản tự khai, Thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà L đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không lấy được lời khai cũng như tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay: Bị đơn bà L vắng mặt. Nguyên đơn ông V có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung, xét thấy các bên đã mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến việc sống ly thân, các bên không còn tình cảm với nhau, không muốn tiếp tục chung sống nên căn cứ theo Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung chấp nhận yêu cầu của ông V, giao tr tên Trần Hoàng Hữu T, sinh ngày 17/01/2013, ông V yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, các đương sự tự khai không có nên không giải quyết. Về nợ chung, các đương sự xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về tố tụng: Vụ án thuộc trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Bị đơn có nơi cư trú tại Quận 6 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Hoàng V và bà Võ Ngọc L tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật (Giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 10/7/2010 tại Ủy ban nhân dân Phường M, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh) nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia s , thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau. Nhưng theo lời khai của ông V thì trong quá trình chung sống, ông V và bà L phát sinh mâu thuẫn không giải quyết được, dẫn đến việc vợ chồng không còn chung sống với cùng nhau từ tháng 5/2018 cho đến nay. Cho thấy mâu thuẫn giữa ông V và bà L đã gay gắt, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài.

Phía bà L mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà L đều vắng mặt không có lý do. Do vậy, Tòa án không thể lấy được lời khai, ý kiến trình bày của bà L, bà L cố tình không đến Tòa, thể hiện sự xem thường pháp luật, bản thân không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, yêu cầu của ông V xin ly hôn với bà L là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Có 01 con chung, tên Trần Hoàng Hữu T, sinh ngày 17/01/2013, ông V yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay tr T đang ở cùng với ông V. Tòa án không lấy được lời khai, ý kiến của bà L về việc nuôi con, bà L vẫn có điều kiện lui tới chăm sóc con chung. Hội đồng xét xử nghĩ chấp nhận yêu cầu của ông V được trực tiếp trông nom, chăm sóc giáo dục nuôi hai con chung. Về việc cấp dưỡng nuôi con, ông V không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông V tự khai không có tài sản chung và không nợ ai không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí: Ông V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Luật phí và lệ phí.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Hoàng V

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Hoàng V được ly hôn với bà Võ Ngọc L

- Về con chung: Giao tên Trần Hoàng Hữu T, sinh ngày 17/01/2013,cho ông Trần Hoàng V yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của tr theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

- Về tài sản chung, về nợ chung: Ông V tự khai không có tài sản chung, không có nợ ai.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trần Hoàng V phải chịu là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông V đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0010698 ngày 08/01/2019 của Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 6. Ông V đã nộp đủ án phí.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ