vanban.org

Bản án 570/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 21/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng:Áp dụng c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 19,25 gam ma túy MDMA và 6,210 gam ma túy Ketamine. Số vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V theo phiếu nhập kho số NK76 ngày 22/11/2018. Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng:Áp dụng c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 570 /2018/HSST
Ngày: 21/12/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH N

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà: Lê Thị H.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Ngọc L - Nghề nghiệp: công chức tư pháp

2. Bà Nguyễn Thị Lệ H - Nghề nghiệp: giáo viên

Thư ký ghi biên bản phiên toà: ông Nguyễn Hồ H - Thư ký Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh N.

Đại diện VKSND thành phố V tham gia phiên toà: bà Tăng Thị Mỹ N - chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 12 năm 2018, tại nhà văn hóa xóm M, xã H, thành phố V. Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh N mở phiên tòa sơ thẩm xét xử lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 564/2018/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 810/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2018 đốivới bị cáo:

Họ và tên: Lê Đình S; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 28/08/1991

Nơi ĐKNKTT: khối Vĩnh yên, phường ĐV, TP. V, tỉnh N.

Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: lớp 06/12

Con ông: Lê Đình T – sinh năm 1963;

Con bà: Trần Thị N - sinh 1972

Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ nhất.

Vợ, con: chưa có

Tiền án: Ngày 30/08/2016 bị Tòa án nhân dân Thành phố V xử phạt 24 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 04/01/2018.

Tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/09/2018 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 20/09/2018 tại khu vực cây xăng thuộc khối 10, phường Q, thành phố V, phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang Lê Đình S đang có hành vi cất giữ trái phép 12 gói Ketamine và 07 gói ma túy tổng hợp MDMA để sử dụng.

Tại cơ quan điều tra Lê Đình S khai nhận: Khoảng 15h ngày 17/9/2018, Lê Đình S gọi điện thoại cho một người đàn ông (S không rõ tên, lai lịch, địa chỉ cụ thể) hỏi mua ma túy “thuốc lắc” và Ketamine thì người đàn ông hẹn S ra khu vực bến xe cũ thuộc phường L, thành phố V để trao đổi mua bán ma túy. Thống nhất xong, Lê Đình S đi đến điểm hẹn và mua của người này 12 (mười hai) gói ma túy dạng Ketamine và 55 viên ma túy dạng thuốc lắc với giá 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, Lê Đình S cất giấu trong người để khi có nhu cầu thì sử dụng. Đến khoảng 22h30 phút ngày 20/9/2018 Lê Đình S gọi điện rủ Trịnh Bắc V (sinh năm 1994, trú tại khối Y, phường H, thành phố V) và Phạm Thị Khánh L (sinh năm 1998, trú tại khối Xuân Đông, phường Hưng D, thành phố V, Tỉnh N) đi chơi. Khi Trịnh Bắc V điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger Biển kiểm soát 37C-27854 (chiếc xe đăng ký sở hữu thuộc công ty P, địa chỉ số 25, đường Phạm Thị T, thành phố V, Tỉnh N, ủy quyền cho anh Võ Thanh T quản lý và cho Trịnh Bắc V thuê xe) chở Lê Đình S và Phạm Thị Khánh L đi đến khu vực cây xăng thuộc khối 10, phường Q, thành phố V, tỉnh N thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh N kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của Lê Đình S 12 (mười hai) gói potilen màu trắng, bên trong mỗi gói chứa chất tinh thể màu trắng, thu giữ trong lòng bàn tay trái 06 (sáu) gói bên trong chứa 53 (năm ba) viên nén hình giọt nước màu hồng, 01 (một) viên nén màu hồng bị vỡ vụn, 01 (một) gói potilen màu trắng có chứa chất bột màu hồng và 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 37C-278.54 nhãn hiệu Ford Ranger. Người cùng tang vật được dẫn giải về trụ sở phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại do cơ quan CSĐT Công an thành phố V lập ngày 21/9/2018, và tại kết luận giám định số 1093 ngày 24/9/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận: “Mười hai mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M12) thu giữ của Lê Đình S gửi tới giám định là chất ma túy (Ketamine). Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Đình S có tổng khối lượng là 6,210 gam (Sáu phẩy hai trăm mười gam).

Sáu mẫu viên nén hình giọt nước màu hồng (ký hiệu M13 đến M18) và một mẫu chất bột màu hồng (ký hiệu M19) thu giữ của Lê Đình S gửi tới giám định đều là chất ma túy (MDMA). Các viên nén hình giọt nước màu hồng (6 gói) thu giữ của Lê Đình S có tổng khối lượng là 18,87 gam (Mười tám phẩy tám bảy gam). Chất bột màu hồng 01 (một) gói thu giữ của Lê Đình S có khối lượng là 0,380 gam (Không phẩy ba trăm tám mươi gam)”.

Cáo trạng số 580/CT – VKSTP ngày 21/11/2018 của VKSND thành phố V truy tố bị cáo Lê Đình S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm n khoản 2 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 BLHS, xử phạt: Lê Đình S từ 09 năm – 09 năm 6 tháng tù. Không áp dụng phạt hình bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình.

Tịch thu tiêu hủy: Quá trình điều tra thu giữ 12 gói ma túy (Ketamine) có tổng khối lượng là 6,210 gam (Sáu phẩy hai trăm mười gam). 06 gói ma túy màu hồng (MDMA) có khối lượng 18.87 gam, 01 gói chất bột màu hồng là ma túy tổng hợp ( MDMA ) có khối lượng là 0,380 gam thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành, cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy. Hiện các vật chứng trên được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V.

Bị cáo pH chịu án phí theo quy định của pháp luật

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Tại phiên toà, bị cáo Lê Đình S khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, biên bản phạm tội quả tang, nội dung cáo trạng truy tố, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 20/09/2018 tại khu vực cây xăng thuộc khối 10, phường Q, thành phố V, Lê Đình S đang có hành vi cất giữ trái phép 12 gói Ketamine có khối lượng 6,210 gam và 07 gói ma túy tổng hợp MDMA có tổng khối lượng 19,25gam để sử dụng thì bị phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên mà bị cáo Lê Đình S thực hiện đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điều 249 BLHS.

Khối lượng hai chất ma túy của bị cáo được tính như sau: Tỷ lệ phần trăm về khối lượng chất ma túy MDMA so với mức tối thiểu của chất ma túy MDMA quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 là: 19,25g/30g x 100 % = 64,1% (tức là 19,25 gam so với 30 gam); Tỷ lệ phần trăm về khối lượng chất ma túy Ketamine so với mức tối thiểu của chất ma túy Ketamine quy định tại điểm e khoản 3 Điều 249 là: 6,21g/100g x 100% = 6,21%. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng chất ma túy thu giữ của Lê Đình S là: 64,1% + 6,21% = 70,31%, dưới 100% . Vì vậy, bị cáo Lê Đình S chịu trách nhiệm hình sự theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

. Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc loại rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự công cộng, vi phạm các quy định của Nhà nước về việc quản lý các chất ma tuý. Trong những năm gần đây tệ nạn buôn bán, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng trái phép chất ma túy đang là vấn nạn của xã hội, nó đang từng ngày từng giờ gieo rắc cái chết trắng cho nhân loại nhất là đối với tầng lớp thanh niên là lực lượng nòng cốt và tương lai của xã hội.

Vấn đề ngăn chặn và phòng ngừa tệ nạn ma túy được Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng quan tâm, tuyên truyền đến tận nhà trường, khối xóm dân cư. Bản thân bị cáo là một thanh niên tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe nhưng không chịu tu chí rèn luyện, lao động làm ăn lương thiện mà do thiếu bản lĩnh, ăn chơi đua đòi nên đã sớm sa vào con đường phạm tội. Bị cáo đã có 01 tiền án về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học răn mình mà lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ xém thường pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm. Việc cách L bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cách L khỏi những đối tượng buôn bán ma túy và cải tạo bị cáo thành người công dân tốt đồng thời phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì có thái độ khai báo thành khẩn, gia đình bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

. Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra thu giữ 12 gói ma túy (Ketamine) có tổng khối lượng là 6,210 gam (Sáu phẩy hai trăm mười gam). 06 gói ma túy màu hồng (MDMA) có khối lượng 18.87 gam, 01 gói chất bột màu hồng là ma túy tổng hợp

( MDMA ) có khối lượng là 0,380 gam thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành, cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc ô tô biển kiểm soát 37C-27854 mà Trịnh Bắc V chở Lê Đình S và Phạm Thị Khánh L. Chiếc xe đăng ký sở hữu thuộc công ty P, địa chỉ số 25, đường Phạm Thị T, thành phố V, Tỉnh N, ủy quyền cho anh Võ Thanh T quản lý và cho Trịnh Bắc V thuê xe. Quá trình Việt chở Lê Đinh S đi chơi không biết bị cáo S tàng trữ trái phép chất ma túy nên nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng theo quy định.

Trong vụ án có Trịnh Bắc V và Phạm Thị Khánh L là người đi cùng với bị cáo nhưng V và L không biết bị cáo Lê Đình S tàng trữ ma túy nên không phạm tội.

. Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 BLHS, xử phạt: Lê Đình S 09 (Chín) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/09/2018.

- Về vật chứng:Áp dụng c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 19,25 gam ma túy MDMA và 6,210 gam ma túy Ketamine. Số vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V theo phiếu nhập kho số NK76 ngày 22/11/2018.

- Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Đình S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ