vanban.org

Bản án 57

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 16/07/2019 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/07/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mùa Thị T, sửa b n án sơ thẩm.

Tuyên b bị cáo Mùa Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Mùa Thị Tồng 09 (Chín) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-11-2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "MÙA THỊ T. MUA BÁN MA TÚY - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mùa Thị T, sửa b n án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
T A N NH N D N
T NH M Đ NG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án s : 57/2019/HS-PT
Ngày: 16-7-2019

NHÂN DANH

N C C NG H A

H CH NGH A V T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH M Đ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Huỳnh Văn Hiệp

Các Thẩm phán:

Ông Phan Minh Dũng

Ông Nguyễn Kim Đồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ba Trần Thị Đào, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 48/2019/TLPT-HS, ngày 06-5-2019 đ i với bị cáo Mùa Thị T; do kháng cáo của bị cáo đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 08/2019/HS-ST ngày 27-3-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Mùa Thị T; sinh năm: 1985 tại tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT: xã TX, huyện VH, tỉnh SL; nơi cư trú: Thôn ĐG, xã PL, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Không biết chữ; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: H’Mông; tôn giáo: Thiên Chúa; con ông Mùa A C, sinh năm 1950 và bà Phàng Thị L, sinh năm 1953; chồng Sồng A P, sinh năm 1983; bị cáo có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2014;

Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15-11-2018; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Mai - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Trong vụ án này còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo; vụ án không bị kháng nghị.

N DUNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mùa Thị Tồng và chồng là Sồng A P tạm trú tại thôn ĐG, xã PL, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng, P là đ i tượng nghiện ma túy. Với mục đích mua ma túy để bán kiếm lời và cho chồng sử dụng, kho ng đầu tháng 11-2018 T về quê tại xã TX, huyện VH, tỉnh SL tìm gặp một người phụ nữ H’Mông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) quen biết từ trước để mua 01 cục ma túy với giá 30.000.000đ. Tồng tr trước 15.000.000đ, s tiền còn lại hẹn sau khi bán ma túy xong sẽ tr n t. Sau khi mua được ma túy, T bắt xe khách từ tỉnh Sơn La về nhà tại thôn ĐG, xã PL, huyện ĐR chia cục ma túy mua được thành 06 phần to, nhỏ khác nhau. Trong đó T đã cho chồng sử dụng một phần, s còn lại T cất giấu tại nhà không cho ai biết.

Vào sáng ngày 15-11-2018 theo sự giới thiệu của Sùng A T, sinh năm 1994, trú cùng thôn, T mang theo 02 cục ma túy, bỏ vào túi v i đeo trước ngực, đi bộ cùng Sùng A T đến khu vực bìa rừng thuộc thôn ĐT, xã PL, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng để bán cho một đ i tượng ở huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với s tiền giao hẹn là 35.000.000đ. Tại đây T giấu bớt 01 cục ma túy vào bụi cỏ trong vườn cà phê, rồi đứng đợi người mua. Đến kho ng 14 giờ cùng ngày, thì bị Công an huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng bắt qu tang, riêng đ i tượng Sùng A T đã chạy thoát vào rừng, hiện chưa bắt được.

Quá trình điều tra Cơ quan c nh sát điều tra Công an huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đã thu giữ trên người Mùa Thị T: 01 cục bột màu trắng ngà, hình hộp, kích thước kho ng 3x2x1,2cm và nhiều cục bột nhỏ bị vỡ ra; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, vỏ màu đen, bàn phím s cùng 01 sim điện thoại s 0352290445. Khám xét nhà Mùa Thị T, thu giữ thêm một bịch nilon màu cam, bên trong có 01 bịch nilon màu trắng đựng 03 cục bột màu trắng ngà. S ma túy này, T khai nhận cất giấu trong nhà để bán cho các con nghiện tại địa phương. Đ i với cục ma túy do T giấu tại vườn cà phê, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữ được.

Theo b n kết luận giám định s 02/GĐ-PC09 ngày 18-11-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, kết luận: Mẫu cục bột đựng trong 01 túi và 03 gói nilon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có kh i lượng 16,6896g và 0,9250g, loại Heroin, là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT:09, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2015 của Chính phủ.

B n án s 08/2019/HS-ST ngày 27-3-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng:

Tuyên b bị cáo Mùa Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i kho n 2 Điều 251; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Mùa Thị T 10 (Mười ) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15-11-2018.

Ngoài ra b n án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 28-3-2019 bị cáo kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị chấp nhận kháng cáo, sửa b n án sơ thẩm; áp dụng cho bị cáo tình tiết gi m nhẹ thành khẩn khai báo, gi m cho bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Với mục đích bán ma túy để kiếm lời, bị cáo Mùa Thị T đã mang theo 01 cục ma túy, loại Heroin, kh i lượng 16,6986g đến tại thôn Đồng Tâm, xã Phi Liêng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng để bán cho 01 đ i tượng ở Lâm Hà, nhưng chưa kịp thực hiện hành vi mua bán thì bị phát hiện và bắt giữ. Ngoài ra, bị cáo còn cất giấu tại nhà 03 cục ma túy, loại Heroin, tổng kh i lượng 0,9250g với mục đích để bán cho các con nghiện. Tổng kh i lượng Heroin bị cáo Mùa Thị Tồng mua bán trái phép và cất giấu tại nhà nhằm mục đích mua bán là 17,6236g Heroin.

[2] Bị cáo nhận thức về tác hại của chất ma túy sẽ gây nh hưởng rất xấu đ i với sức khỏe con người và là nguyên nhân trực tiếp gây ra nhiều tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, làm mất an ninh trật tự an toàn tại địa phương. Nhưng chỉ vì mục đích mu n có tiền tiêu xài, mà bị cáo đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên b bị cáo Mùa Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm i kho n 2 Điều 251; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Mùa Thị Tồng 10 (Mười) năm tù là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt và đã khai báo thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình; đây là tình tiết gi m nhẹ mới nên cần áp dụng tình tiết mới là thành khẩn khai báo gi m cho bị cáo một phần hình phạt theo như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b kho n 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật T tụng hình sự năm 2015.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mùa Thị T, sửa b n án sơ thẩm.

Tuyên b bị cáo Mùa Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i kho n 2 Điều 251; Điều 38; điểm s kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Mùa Thị Tồng 09 (Chín) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-11-2018.

2. Áp dụng Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội về án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Mùa Thị T không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ