vanban.org

Bản án 57/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/12/2025. Phạt bổ sung bị cáo 7.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - H YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2026/HS-ST
Ngày 31-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - H YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Diệu Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Hoan và ông Bùi Văn Bằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - H Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - H Yên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - H Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2026/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2026/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2026, đối với:

* Bị cáo NGUYỄN VĂN H, sinh ngày 19/5/19xx; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: lao động tự do; Giới tính: nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Căn cước công dân: xxx; Trình độ học vấn: lớp 7/12; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị S (đều đã chết); Có vợ là Bùi Thương H (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2006/HSST ngày 27/6/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk xử phạt Nguyễn Văn H 09 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", phạt bổ sung 5.000.000 đông, phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, Nguyễn Văn H kháng cáo. Bản án hình sự phúc thấm số 160/2006/HSPT ngày 25/8/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xử phạt Nguyễn Văn H 08 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy”. H chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2012, chấp hành xong 5.050.000 tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm ngày 30/9/2016; Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2021/HSST ngày 30/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông H, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Văn H 02 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", phải nộp 200.000 đồng áp phí hình sự sơ thẩm. Ngày 19/01/2023 chấp hành xong án phạt tù, ngày 12/8/2021 nộp 200.000 đồng áp phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/12/2025 đến ngày 18/12/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam số 02 Công an tỉnh H Yên; có mặt.

* Người chứng kiến:

- Bà Trần Thị C, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).

- Ông Phan Thanh G, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H sử dụng ma túy loại Heroine từ năm 2004. Khoảng 18 giờ ngày 23/11/2025, H đi xe môt tô từ nhà đến khu vực cống trắng thuộc phường T, tỉnh Hưng Yên gặp và mua của một người đàn ông H không biết tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy loại Heroine với giá 4.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H điều khiển xe mô tô đi về nhà rồi dùng dao lam cắt một ít ra sử dụng, số ma túy còn lại H chia nhỏ ra thành nhiều phần gói lại thành các gói nhỏ cất dấu tại góc trái gian bếp và tại chuồng gà nhà H để khi nào có nhu cầu thì lấy sử dụng. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12/12/2025, H đang đứng tại trục đường thôn Trần Phú, xã Đông Hưng, tỉnh Hưng Yên thì lực lượng Công an xã Đông Hưng nghi ngờ H có liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của bà Trần Thị C và ông Phan Thanh G, H đã tự nguyện lấy từ túi quần phía trước bên phải đang mặc 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong có 03 gói nhỏ được gói bằng giấy màu trắng kẻ giao nộp cho lực lượng Công an, ngoài ra Công an xã Đông H còn quản lý của H 01 chiếc điện thoại di động Nokia 8800 vỏ bằng kim loại màu cà phê đã qua sử dụng có số code 6557116 lắp sim thuê bao số 0987637456. Công an xã Đông H tiến hành niêm phong gói ma túy, đưa H và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an xã Đông H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H, thu giữ: Tại góc trái gian bếp nơi ở của Nguyễn Văn H 01 gói nilon màu xanh có nắp cài, kích thước (4x9) cm, có chữ viết THUỐC LÀO ĐẶC BIỆT KỲ ĐỒNG, mở ra bên trong có 25 gói nhỏ, mỗi gói được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục. Thu tại chuồng gà thứ ba phía trên tính từ bên phải sang nơi ở của Nguyễn Văn H 01 túi nilon màu xanh có nắp cài, kích thước (4x9) cm, một mặt có chữ Đệ Nhất Thuốc Lào HẢI NAM, mở ra kiểm tra bên trong có 01 gói được gói bằng giấy dạng giấy sách khoa có chữ viết, bên trong có chất bột màu trắng dạng cục.

Tại Kết luận giám định số 1915/KL-KTHS ngày 16/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H Yên kết luận: "Chất bột màu trắng dạng cục quản lý của Nguyễn Văn H gửi giám định là ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,2238 gam. Chất bột màu trắng dạng cục thu giữ của Nguyễn Văn H trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy loại Heroine, có khối lượng 1,7472 gam. Chất bột màu trắng dạng cục thu giữ của Nguyễn Văn H trong phong bì ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy loại Heroine, có khối lượng 2,8719 gam".

Bản cáo trạng số 02/CT-VKSKV7 ngày 02/3/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - H Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - H Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/12/2025. Phạt bổ sung đối với bị cáo từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H được hoàn trả lại sau khi giám định cùng bao gói.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội, hành vi phạm tội của bị cáo là sai trái, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - H Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Hồi 18 giờ 30 phút, ngày 12/12/2025, tại trục đường thôn T, xã Đông Hưng, tỉnh Hưng Yên; bị cáo tàng trữ trái phép tại túi quần phía trước bên phải đang mặc 01 gói ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,2238 gam với mục đích sử dụng bị Công an Đông H bắt quả tang. Ngoài ra bị cáo còn tàng trữ trái phép tại góc trái gian bếp 01 gói nilon màu xanh có chứa 1,7472 gam ma túy loại Heroine; tàng trữ trái phép tại chuồng gà nơi ở của bị cáo 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa 2,8719 gam ma túy loại Heroine. Tổng khối lượng ma túy loại Heroine, bị cáo tàng trữ trái phép để sử dụng là 4,8429 gam.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã Đông H, tỉnh H Yên lập; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn H; Sơ đồ, bản ảnh hiện trường; Bản kết luận giám định số 1915/KL-KTHS ngày 16/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H Yên; Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn H tàng trữ trái phép 4,8429 gam ma túy loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo được thực hiện vào ngày 12/12/2025, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, hành vi này đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - H Yên đã truy tố là đúng pháp luật.

Tội danh và hình phạt được quy định như sau:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

a)…

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

….

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, làm mất trật tự trị an xã hội, làm suy yếu sức khỏe con người và là yếu tố phát sinh những loại tội phạm khác. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo có nhân thân năm 2006 bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, năm 2021 bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nH bị cáo không lấy đó làm bài học sửa chữa sai phạm mà lại tiếp tục phạm tội mới. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai phạm trở thành công dân có ích cho xã hội và áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 điện thoại di động Nokia 8800, quá trình điều tra xác định không liên quan đến tội phạm nên ngày 20/12/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H Yên đã trả cho ông Nguyễn Bá Oanh, sinh năm 1971; Trú tại: Thôn Trần Phú, xã Đông H, tỉnh H Yên (là anh trai H - được H ủy quyền nhận lại) đúng quy định pháp luật.

Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra không xác định được người bán ma túy cho bị cáo là ai nên không có căn cứ để điều tra, xử lý là đúng pháp luật.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Heroin của bị cáo Nguyễn Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã ra tiến hành điều tra xác minh H không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/12/2025. Phạt bổ sung bị cáo 7.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 4,4555 gam ma tuý loại Heroine và toàn bộ bao gói thu giữ của Nguyễn Văn H đựng trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1915/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H Yên có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/3/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh H Yên.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/3/2026. * Nơi nhận:

Cỡ chữ